Hơn ba thập kỷ gắn bó với công việc chung, ông Lỷ A Sy (sinh năm 1952, dân tộc Nùng), người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn Hòa Bình, xã Sông Lũy, tỉnh Lâm Đồng luôn là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Bằng tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu, ông đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động người dân chung sức xây dựng nông thôn mới và giữ gìn bình yên nơi xóm làng.
Kết nối và tháo gỡ nhiều vấn đề phát sinh
Thôn Hòa Bình hiện được hình thành trên cơ sở sắp xếp hai thôn Hòa Bình và thôn 2 trước đây, là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số như Nùng, Ngái, Hoa, Chăm, K'ho, Mường... Đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và buôn bán nhỏ. Những con đường bê tông khang trang, chợ nông thôn được sửa chữa, nâng cấp cùng đời sống ngày càng khởi sắc của người dân là những đổi thay dễ nhận thấy ở thôn Hòa Bình hôm nay. Ít ai biết rằng, nơi đây từng là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống còn nhiều khó khăn. Góp phần tạo nên sự đổi thay ấy có sự đồng hành, tâm huyết của những người có uy tín ở cơ sở, trong đó có ông Lỷ A Sy.
Theo ông Đỗ Thanh Hùng, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Sông Lũy, cộng đồng người Nùng, Hoa... đến địa phương sinh sống từ năm 1954 và từng có thời gian sống khá biệt lập, tình hình an ninh trật tự còn nhiều phức tạp. Trong bối cảnh đó, ông Lỷ A Sy là cán bộ tài chính của xã, được địa phương tin tưởng giao nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, kết nối và tháo gỡ nhiều vấn đề phát sinh trong cộng đồng.
Không chỉ làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ông Lỷ A Sy còn kiên trì vận động bà con thay đổi những tập quán không còn phù hợp nhưng vẫn giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống. Điển hình như việc vận động đồng bào người Hoa rút ngắn thời gian tổ chức tang lễ từ nhiều ngày xuống còn khoảng 24- 48 giờ, vừa bảo đảm yếu tố văn hóa, vừa phù hợp với nếp sống văn minh.
"Nói đi đôi với làm"
Bằng uy tín của mình, ông Lỷ A Sy đã vận động người dân hiến đất, đóng góp xây dựng hơn 4.000m đường bê tông nội thôn với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng; sửa chữa, nâng cấp chợ nông thôn với kinh phí gần 100 triệu đồng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa của người dân. Điều khiến ông vui mừng nhất là chứng kiến quê hương ngày càng đổi thay, đời sống của bà con được nâng lên và tinh thần đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc ngày càng bền chặt. Theo ông, khi bà con tin tưởng, cùng nhau vì lợi ích chung thì dù khó khăn đến đâu cũng có thể tìm được cách tháo gỡ để xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Sau khi nghỉ công tác tại xã, ông Lỷ A Sy tiếp tục gắn bó với công tác Mặt trận ở thôn hơn 13 năm. Với ông, muốn vận động người dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì trước hết bản thân và gia đình phải là những người thực hiện tốt nhất. Chỉ khi “nói đi đôi với làm”, lời nói mới có sức thuyết phục. Ông chia sẻ: “Bà con đã tin tưởng thì mình phải cố gắng. Quan trọng nhất là gia đình mình phải gương mẫu, con cháu hòa thuận thì mới có thể vận động được người khác”.
Triết lý giản dị ấy cũng chính là cách ông xây dựng uy tín của mình trong nhiều năm qua. Nhờ sự gần gũi, chân thành, ông luôn nắm rõ hoàn cảnh của từng hộ dân để kịp thời động viên, giúp đỡ khi cần thiết; tích cực tham gia hòa giải các mâu thuẫn trong cộng đồng, vận động thanh niên sau cai nghiện ổn định cuộc sống và hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.
Ông Trần Thanh Sơn, người dân thôn Hòa Bình cho biết, ông Lỷ A Sy là người gần gũi, hòa đồng và luôn quan tâm đến cuộc sống của bà con. Mỗi khi trong thôn có việc cần chung tay giải quyết, ông đều là người tiên phong tham gia và vận động người dân hưởng ứng.
Còn theo ông Ịp A Dưởng, thôn Hòa Bình, muốn vận động được người khác thì bản thân và gia đình phải làm gương, và ông Lỷ A Sy đã làm được điều đó trong suốt nhiều năm qua. Gia đình ông có kinh tế ổn định, con cháu chí thú làm ăn, hòa thuận.
Trong quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị thôn dân cư, ông Lỷ A Sy là một trong những người tích cực tuyên truyền, vận động bà con hiểu rõ và đồng thuận với chủ trương tinh gọn, sắp xếp tổ chức bộ máy ở cơ sở. Với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, ông cùng Ban điều hành thôn kiên trì đến từng hộ dân giải thích những lợi ích lâu dài của việc sắp xếp, từ đó tạo sự thống nhất trong cộng đồng.
Sau khi sáp nhập thôn Hòa Bình, dù không còn trực tiếp đảm nhiệm công việc như trước, ông vẫn luôn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lớp cán bộ trẻ trong công tác dân vận ở cơ sở, tiếp tục phát huy vai trò của người có uy tín trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Sông Lũy Đỗ Thanh Hùng đánh giá, trong giai đoạn địa phương còn nhiều khó khăn, ông Lỷ A Sy là một trong những người có uy tín tích cực hỗ trợ chính quyền triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Sự tận tụy và những đóng góp của ông Lỷ A Sy đã được ghi nhận bằng nhiều hình thức khen thưởng. Nổi bật, năm 2023, ông được tuyên dương tại Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; được UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện các chính sách dân tộc tại địa phương.
Trong bối cảnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang từng ngày đổi mới, vai trò của những người có uy tín như ông Lỷ A Sy càng trở nên quan trọng. Họ không chỉ là cầu nối đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến với người dân, mà còn là những “người giữ lửa” của tinh thần đoàn kết, góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và giữ gìn sự bình yên của mỗi thôn, bản./.
Tên tự gọi: Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...
Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.
Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.
Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.
Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.
Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.
Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...
Theo cema.gov.vn