Tháng 7 Âm lịch là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội và hoạt động văn hóa quan trọng của các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là ở Lào Cai.

Trong tháng này, có nhiều lễ hội của đồng bào các dân tộc Lào Cai đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, được tổ chức long trọng, với các nghi thức thành kính, góp phần vun đắp niềm tự hào dân tộc, làm phong phú thêm di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc địa phương.
Tết tháng 7 của người La Chí ở Lào Cai còn được gọi là “Khu Cù Tê” - Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, đang được cộng đồng dân tộc và địa phương nỗ lực gìn giữ, phát huy với nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc.
Người La Chí coi "Khu Cù Tê" là cái Tết quan trọng nhất trong năm để thờ cúng tổ tiên, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Đây cũng là dịp những người trong dòng họ sum họp với gia đình, dòng tộc của mình, tưởng nhớ tổ tiên, đồng thời cầu cho cuộc sống ấm no, gia đình hạnh phúc.
Tết "Khu Cù Tê" được tính từ ngày mùng 1 - 15/7 Âm lịch. Năm nào cũng vậy, người La Chí tại xã Bản Liền cũng tổ chức Tết "Khu Cù Tê" gắn với Lễ hội Hoàng Vần Thùng, nhằm tưởng nhớ người Tộc trưởng đã truyền dạy nghề nông cho người La Chí.
Trước ngày Tết khoảng 2, 3 hôm, gia đình chị Vàng Thị Đài, thôn Nậm Khánh, xã Bản Liền, sẽ đi phát quang, dọn cỏ các ngôi mộ và thông báo cho tổ tiên biết ngày mở Tết. Chị cho biết, điểm độc đáo của nghi lễ này là nhà nào cũng nấu sẵn rượu để cúng. Rượu được làm từ gạo nếp, nấu lên để nguội, đem ủ cùng một loại men cổ truyền gồm 12 thứ lá lấy ở trên rừng, có màu trắng đục, vị ngọt rất thơm.
Trong những ngày Tết, nhiều hoạt động được tổ chức, như: Trình diễn nhạc cụ người La Chí, hát giao duyên; thi đấu các môn kéo co, đẩy gậy; các trò chơi dân gian như đu quay, đi cà kheo; thi thêu thổ cẩm, thi hát dân ca... thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia thi đấu, giao lưu, tạo không khí tưng bừng, sôi động.
Trong ngày Tết cuối, dân làng tập trung tại khu nhà cộng đồng, làm lễ tiễn tổ tiên về lại thế giới bên kia. Chủ lễ được chọn là người có uy tín, đã lập gia đình, đã có con, gia đình hạnh phúc, chưa từng vi phạm luật lệ của làng bản. Khi tổ tiên và những vong hồn tụ về thì chủ lễ sẽ đọc tế, làm lễ cùng các già làng, trưởng họ trong tiếng tù và hú vang vọng núi rừng, tiếng chiêng trống nô nức.
Ông Lương Mạnh Hà, Chủ tịch UBND xã Bản Liền cho biết, để gìn giữ di sản, các lớp học, tập huấn kỹ năng, truyền thụ các điệu múa, hát dân ca La Chí, các nghi lễ trong đời sống sinh hoạt, văn hóa tinh thần đã được truyền dạy rộng rãi cho thế hệ trẻ cũng như toàn bộ người dân trong xã. Xã đã thành lập Câu lạc bộ văn nghệ dân gian tạo sân chơi lành mạnh, ý nghĩa, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, chung sức bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa gắn với du lịch, tạo nét độc đáo, hấp dẫn du khách khi đến với miền đất du lịch Bản Liền.
Cũng trong tháng 7 Âm lịch, một trong những Lễ hội lớn nhất tại Lào Cai đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là Lễ hội đền Bảo Hà - chính thức khai hội tại xã Bảo Hà, thu hút hàng ngàn du khách đến từ mọi miền đất nước về tham dự.
Đền Bảo Hà từ lâu được biết đến là một địa chỉ văn hóa tâm linh, với tên gọi dân gian là Đền ông Hoàng Bảy. Lễ hội truyền thống đền Bảo Hà được tổ chức hằng năm, nhằm tưởng nhớ công lao của Danh tướng Hoàng Bảy - người có công đánh giặc phương Bắc, bảo vệ bờ cõi vào cuối triều Lê (1740-1786). Trong một trận đánh không cân sức với quân giặc, danh tướng Hoàng Bảy đã anh dũng hy sinh, nhân dân trong vùng đã chôn cất ông và lập đền thờ tại vùng đất Bảo Hà.
Để ghi nhớ công lao người anh hùng có công với đất nước, các vua Minh Mạng, Thiệu Trị (triều Nguyễn) đã tặng ông danh hiệu "Trấn an hiển liệt". Ông được sắc phong là “Thần vệ quốc”, được nhân dân tôn là Đức Thánh Hoàng Bảy. Ngày giỗ chính của ông là ngày 17/7 Âm lịch. Lễ hội là dịp để nhân dân và du khách về dâng hương, ngưỡng vọng và tưởng nhớ Đức Thánh Hoàng Bảy.
Chuỗi Lễ hội bắt đầu từ ngày 23/8 (tức 1/7 Âm lịch) với Lễ hầu khai hội. Ngoài ra, Lễ hội còn có các hoạt động khác như: không gian văn hóa các dân tộc năm 2025, diễn ra từ ngày 5 - 8/9 (tức 14 - 17/7 Âm lịch); Lề cầu an, thả đèn hoa đăng vào 19 giờ 30 phút ngày 6/9 (tức 15/7 Âm lịch); Lế tế khao quân diễn ra vào ngày 7/9 (ngày 16/7 Âm lịch); Chương trình nghệ thuật chào mừng lễ hội vào 20 giờ ngày 7/9 (tức ngày 16/7 Âm lịch); Lễ giỗ Đức thánh Hoàng Bảy từ 23 giờ ngày 7/9 (tức ngày 16/7 Âm lịch); Lễ rước kiệu Khai mạc Lễ hội Đền Bảo Hà vào ngày 8/9 (tức ngày 17/7 Âm lịch); Giao lưu thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu đền Bảo Hà 2025 từ ngày 10-11/9 (tức ngày 19 - 20/7 Âm lịch)…
Lễ hội không chỉ góp phần tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu đến du khách về các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, mà còn kích cầu du lịch, tạo thương hiệu cho du lịch tâm linh và du lịch cộng đồng của địa phương.
Tỉnh Lào Cai là địa phương có số lượng di sản văn hóa phi vật thể nhiều nhất và đa dạng nhất cả nước, với 4 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; 56 di sản văn hóa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 1 di tích xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt; 34 di tích xếp hạng di tích cấp quốc gia, 172 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai Nông Việt Yên cho biết, với phương châm “biến di sản thành tài sản”, Lào Cai khẳng định vị thế là trung tâm văn hóa của khu vực, điểm sáng về bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị văn hóa. Những di sản văn hóa phi vật thể, di tích, danh thắng được bảo tồn, khôi phục và phát huy giá trị đã làm nên dấu ấn nổi bật của văn hóa Lào Cai, trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế./.
Tên tự gọi: Cù tê.
Tên gọi khác: Thổ Ðen, Mán, Xá.
Dân số: 13.158 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái – Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Péo.
Lịch sử: Người La Chí có lịch sử cư trú lâu đời ở Hà Giang, Lào Cai.
Hoạt động sản xuất: Người La Chí giỏi nghề khai khẩn và làm ruộng bậc thang, trồng lúa nước. Họ gặt lúa nếp bằng hái nhắt còn gặt lúa tẻ bằng liềm, đập lúa vào máng gỗ lấy thóc ngay ở ngoài ruộng. Họ sử dụng cả ba loại nương với các công cụ sản xuất khác nhau: gậy chọc lỗ, cuốc, cày. Người ta dành nương tốt nhất để trồng chàm, bông.
Ăn: Người La Chí có cách nấu và ghế cơm bằng hơi nước rất độc đáo. Cơm nấu trong chảo to, cơm sôi thì vớt lên cho vào chõ đồ như đồ xôi. Cơm dỡ ra không bị nát mà khô dẻo nhờ được đồ chín bằng hơi nước nóng. Có nhiều cách giữ thực phẩm để ăn dần như sấy khô, làm thịt chua là phổ biến nhất. Da trâu sấy khô là món ăn rất được ưa chuộng.
Họ thích để răng đen. Răng càng đen càng đẹp. Thanh niên thích bịt răng vàng coi đó là hình thức làm duyên làm dáng, dấu hiệu của sự trưởng thành.
Mặc: Ðàn ông mặc áo dài năm thân, cài khuy bên nách phải, tóc dài quá vai, đội khăn cuốn hay khăn xếp, thích đeo túi vải chàm có viền đỏ xung quanh để đựng diêm thuốc và các thứ lặt vặt.
Phụ nữ mặc quần, một số ít còn mặc váy. Bộ y phục truyền thống là chiếc áo dài tứ thân xẻ giữa, yếm thêu, thắt lưng bằng vải. Vào dịp tết, lễ người ta còn diện ba chiếc áo dài lồng vào nhau. Nữ giới ưa dùng khăn đội đầu dài gần 3 mét. Màu chàm đen rất được ưa thích. Nữ đeo vòng tai, vòng tay.
Nam chỉ đeo vòng tay. Thầy cúng mỗi khi hành lễ có y phục riêng. Ðó là bộ quần áo thụng, dài quá mắt cá chân, xẻ giữa, có thắt lưng bằng vải, đầu đội mũ vải rộng, có quai. Trong một số nghi lễ, người hành lễ đeo một miếng da trâu khô hoặc đội nón.
Ở: Họ thường sống từng làng ở vùng núi đất các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần (Hà Giang). Nhà của mỗi gia đình là một quần thể kiến trúc gồm nhà sàn - nhà trệt - kho thóc trong một phạm vi không gian hẹp.
Kiểu kiến trúc kết hợp chặt chẽ giữa sàn và nhà trệt là một sáng tạo văn hoá độc đáo. Mỗi nhà gồm hai phần bằng nhau, mái lồng vào nhau, phần nhà sàn để ở, phần nhà trệt là nơi làm bếp.
Lên nhà mới phải mời thầy cúng về cúng xua đuổi ma bằng cách dùng ba cây cỏ lá khua bốn góc nhà, bắt đầu từ góc của bố mẹ trước. Nếu người con trai đã có bàn thờ ở nhà cũ thì tháo bàn thờ đó về lắp ở nhà mới trong vị trí của người chủ gia đình. Trong suốt 13 ngày kể từ hôm lên nhà mới, bếp lửa luôn luôn sáng thì mới may mắn.
Phương tiện vận chuyển: Có sự kết hợp giữa cách vận chuyển của cư dân vùng cao và cư dân vùng thung lũng. Phụ nữ phổ biến dùng địu đan bằng giang hoặc địu vải.
Cái địu đều có quai đeo trên trán để chuyên trở. Ðàn ông dùng địu có hai quai đeo vai kiểu địu của người Hmông hoặc dùng đòn gánh đôi dậu. Người La Chí địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.
Chiếc máng lần là phương tiện dẫn nước phổ biến về đến tận nhà hay gần nhà. Từ bến nước người ta chứa nước vào những ống bương dài tới 1,5m và vác lên nhà sàn để gần chạn bát dùng dần.
Dùng ngựa để thồ hàng cũng là một phương tiện phổ biến.
Các quan hệ xã hội: Gia đình ba thế hệ hay các cặp vợ chồng cùng thế hệ chung sống với nhau là phổ biến. Mỗi họ có người đứng chăm lo việc cúng. Ðó không phải là trưởng họ mà chỉ là người biết cúng. Người ta chọn người giữ vị trí này bằng cách bói xem xương đùi gà.
Người La Chí có cách gọi tên theo nguyên tắc phụ tử liên doanh với công thức là: họ - pô (bố) - tên con - tên riêng của người được gọi. Người phụ nữ có con được gọi theo công thức sau: Mìa (mẹ) - tên con cả - tên chồng.
Tục nhận bố mẹ nuôi cho trẻ sơ sinh khá phổ biến. Trẻ chào đời sau ba buổi sáng, gia chủ đặt một sợi chỉ đỏ trên một trên một bát nước đầy ở trên bàn thờ, chờ ai đó vào nhà trước sẽ được làm bố mẹ nuôi, đặt tên cho cháu bé. Trẻ khóc nhiều được quan niệm là tên chưa hợp, phải bói tìm dòng họ thích hợp làm bố mẹ nuôi đặt tên cho con.
Thờ cúng: Người ta cúng tổ tiên vào các dịp lễ tết. Tổ tiên được cúng ba đời đối với nam, hai đời đối với nữ. Theo phong tục, bố mẹ chôn ngày nào con cái nhớ suốt đời không được gieo giống hay cho vay, mượn vào ngày đó. Ðó không phải là ngày sinh sôi, phát triển.
Trong một nhà có nhiều bàn thờ cho mỗi người đàn ông.
Bàn thờ dựng theo thứ tự của bố, con trai út, các con trai thứ, trong cùng của con trai cả. Mỗi bàn thờ được coi là hoàn thành phải qua ba lần cúng dỡ đi lập lại bàn thờ mới.
Học: Các kiến thức và kinh nghiệm dân gian được trao truyền giữa các thế hệ bằng miệng. Thần thoại, cổ tích đặc biệt phong phú giải thích cho thế hệ trẻ nhiều hiện tượng thiên nhiên và xã hội theo quan niệm dân gian.
Văn nghệ: Ngày tết, lễ trai gái thường hát đối đáp, chơi đàn tính 3 dây, đàn môi. Trống, chiêng được dùng phổ biến.
Chơi: Tết Nguyên đán nam nữ thường tập trung ở bãi rộng chơi ném còn, đánh quay, chơi đu thăng bằng. Tết tháng tám họ chơi đu dây. Trẻ em thích chơi ống phốc.
Theo cema.gov.vn
