Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.
Hồn cốt nhà sàn người Thái nơi thung lũng
Nhìn từ đỉnh dốc Pù Huột, quần thể nhà sàn của đồng bào Thái ở xã Bình Chuẩn dưới thung lũng nổi bật với những mái nhà xếp lớp. “Lạc” vào các tiểu vùng văn hóa Thái ở các bản Xiềng, Đình, Nà Cọ, Mét... dễ dàng nhận thấy những ngôi nhà sàn dựng cao khỏi mặt đất từ 1,6m đến hơn 2m nhờ hệ thống cột gỗ lớn, tạo nên dáng vẻ thanh thoát nhưng vững chãi cho ngôi nhà.
Ông Kha Văn Khay, bản Na Cọ, xã Bình Chuẩn cho biết, theo quan niệm của người Thái, ngôi nhà vừa là nơi ở, sinh hoạt và là không gian gắn kết con người với thiên nhiên. Vì vậy, cấu trúc nhà sàn được thiết kế để thích nghi với điều kiện địa hình và khí hậu miền núi. Sàn nhà được làm cao nhằm tránh ẩm thấp và bảo vệ con người trước thú dữ, rắn rết, nước mưa, lũ hay sạt lở đất đá. Nhờ hệ thống cột chống chắc khỏe, nhà sàn có thể dựng trên những khu vực đất dốc mà không cần diện tích mặt bằng quá nhiều, giữ nguyên được địa hình tự nhiên của núi rừng. Phần gầm sàn là nơi để nông cụ sản xuất, củi đun và các vật dụng sinh hoạt. Trong khi đó, toàn bộ nhịp sống, sinh hoạt của thành viên gia đình diễn ra trên tầng hai - nơi có gian tiếp khách, chỗ nghỉ ngơi. Không gian bếp được bố trí liền kề ở đầu hồi.
Ông Lô Văn Mằn, bản Na Cọ, xã Bình Chuẩn chia sẻ, những cây cột nhà thường được làm từ các loại thân gỗ quý, bền chắc, có khả năng chịu được thời tiết khắc nghiệt, bền bỉ với thời gian, như: lim, sến, táu, kiển kiển, dổi, trai... Hàng chục năm trước, khi vào rừng chọn cây để làm cột, khung nhà, lát sàn, thưng vách... người Thái thường đi vào mùa khô - lúc cây cối sinh trưởng chậm, lượng nước trong thân cây ít. Cây gỗ khai thác vào mùa khô sẽ tránh được mối mọt. Tuy nhiên cây gỗ được chọn để đốn hạ lấy gỗ phải là cây thân thẳng, không có sâu đục thân, đặc biệt là không bị cụt ngọn - điều tối kỵ nhất khi chọn gỗ làm nhà.
Khi dựng nhà, để tránh phần chân cột tiếp xúc trực tiếp với đất, phải kê chân cột lên những tảng đá được tạo thành trụ có tiết diện hình vuông, bát giác hoặc lục lăng. Cách làm này giúp hệ thống cột của ngôi nhà bền hơn, hạn chế tình trạng ẩm mốc và mối mọt theo thời gian. Đặc biệt là có thể bù, trừ sự chênh lệch ngắn dài của các cây cột, giúp ngôi nhà có sự thăng bằng trong điều kiện nền đất dựng nhà không bằng phẳng.
“Điều đặc biệt trong kết cấu nhà sàn là toàn bộ hệ thống khung gỗ (cột nâng, hoành, kèo, dui, mè, xà dọc, xà ngang...) được liên kết với nhau bằng kỹ thuật chốt, ghép mộng truyền thống với độ chính xác và mang tính thẩm mỹ cao, thay vì dùng đinh sắt. Những mối ghép đã góp phần tạo nên sự chắc chắn cho cả công trình mà vẫn giữ được nét mềm mại, thanh thoát”, anh Lang Văn Tuất, bản Na Cọ cho biết thêm.
Đặc điểm ngôi nhà sàn của đồng bào Thái ở thung lũng Bình Chuẩn có bốn mái phẳng, đua dài, rộng ra che mưa, nắng cho toàn bộ ngôi nhà; trên mái không trang trí biểu tượng “khau cút” như mái nhà sàn của đồng bào Thái ở nhiều vùng Tây Bắc. Còn có sự khác biệt nữa là trong khi ngôi nhà sàn của đồng bào Thái ở Tây Bắc (thuộc 2 ngành Thái đen, Thái trắng) luôn có 2 cầu thang ở hai đầu nhà, gồm “tang chan” dành cho phụ nữ và “tang quản” dành cho nam giới lên, xuống thì nhà sàn của người Thái ở Bình Chuẩn (ngành Thái thanh) chỉ có duy nhất 1 cầu thang cho nam, nữ, già trẻ dùng chung.
Người Thái ở Bình Chuẩn còn đặc biệt coi trọng yếu tố phong thủy và áp dụng triệt để vào việc dựng nhà sàn. Họ quan niệm số lẻ tượng trưng cho may mắn và sự sinh sôi nên nhà sàn thường được làm theo cấu trú kiểu 3 gian, 2 chái (2 gian nhỏ ở 2 đầu hồi nhà) hoặc 5 gian, 2 chái. Số lượng cửa chính, cửa sổ cũng luôn là số lẻ để mang lại điều tốt lành cho gia chủ.
Độc đáo không gian văn hóa nội tại
Không chỉ mang giá trị về kiến trúc, nhà sàn của người Thái ở Bình Chuẩn còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của cộng đồng dân tộc. Mỗi ngôi nhà sàn không đơn thuần là công trình xây dựng mà còn là nơi gắn bó với vòng đời của mỗi con người. Từ khi sinh ra, lớn lên, lập gia đình cho tới lúc về già, mọi sinh hoạt của đồng bào Thái đều diễn ra trong không gian nhà sàn.
Ngay từ lối lên xuống, nhiều ngôi nhà sàn truyền thống đã gây ấn tượng bởi hình tượng đầu rồng được tạo tác ở hai đầu cầu thang. Những đường nét chạm khắc thủ công dù đã trải qua hàng chục năm vẫn còn rõ nét. Đầu rồng luôn hướng lên trên, mang ý nghĩa bay lên và phát triển. Đồng bào Thái gửi gắm vào đó những mong ước về cuộc sống ấm no, gia đình hạnh phúc và công việc làm ăn thuận lợi.
Lan can quanh cầu thang và khu vực hiên nhà cũng được trang trí bằng nhiều hoa văn. Các họa tiết hình răng cưa, hình ngôi sao năm cánh hay trái tim xuất hiện trên phần vòm nóc không chỉ tạo điểm nhấn thẩm mỹ mà còn giúp không khí lưu thông, đưa ánh sáng tự nhiên vào trong nhà và hạn chế nước mưa hắt vào khi trời giông gió. Chính sự kết hợp hài hòa giữa công năng sử dụng và nghệ thuật trang trí đã tạo nên vẻ đẹp riêng của nhà sàn người Thái.
Bên trong ngôi nhà, các bộ phận hoành, xà nâng... thường được chạm khắc hình ảnh hoa sen, chim bồ câu, các loài hoa, lá... mang ý niệm thanh cao, tinh khiết, vừa phản ánh đời sống tinh thần phong phú, gắn kết hài hòa với tự nhiên của cư dân miền núi.
Ông Lang Văn Tuất, bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn cho biết, nhà sàn cũng là nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng như cưới hỏi, cúng vía, buộc chỉ cổ tay, tiếp đón khách quý... Với người Thái, khách đến nhà luôn được mời lên gian chính, nơi trang trọng nhất để trò chuyện, thăm hỏi và thưởng thức những món ăn truyền thống. Những dịp lễ, Tết, mừng nhà mới, mừng lúa múa, làm vía... khu vực dưới nhà sàn là nơi dân bản quây quần chơi các trò chơi dân gian như: khắc luống, nhảy sạp, tó mắng, đánh cồng chiêng, múa xòe, uống rượu cần... Ngày nay, dù cuộc sống có nhiều đổi thay, nhiều gia đình đã xây dựng thêm các công trình phụ như mái che sân, khu tắm giặt tiện nghi hơn nhưng phần kiến trúc chính của ngôi nhà sàn vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn.
Trưởng bản Na Cọ, ông Kha Văn Trang cho biết, ngày nay, giữa thời đại bê tông hóa mạnh mẽ, điều đáng quý là đồng bào Thái nơi đây vẫn lựa chọn dựng nhà sàn mới bằng gỗ, thay vì xây nhà vật liệu. Với đồng bào Thái, sống trong nhà sàn không chỉ là thói quen mà còn là cách giữ gìn phong tục, tập quán và bản sắc của dân tộc mình. Chúng tôi luôn tự hào về ngôi nhà sàn truyền thống mà gia đình đang sở hữu. Bởi mỗi một cột gỗ, nhịp cầu thang lên xuống hay từng họa tiết chạm khắc của căn nhà đều chứa đựng ký ức của nhiều thế hệ ông, cha. Bao đời nay, những nếp nhà sàn vẫn sớm chiều tỏa khói bếp, vang tiếng nói cười, diễn ra nhịp sống giản dị, bình yên của đồng bào người Thái giữa đại ngàn.
Ông Lô Văn Lý, Chủ tịch UBND xã Bình Chuẩn, tỉnh Nghệ An chia sẻ, toàn xã có 7 bản, đều là bản của đồng bào Thái, nằm dọc theo chiều dài thung lũng. Trong đó, mật độ nhà sàn truyền thống tập trung nhiều ở các bản Đình, Na Cọ, Xiềng... Vượt qua công năng nhà ở, ngôi nhà sàn của đồng bào Thái còn là biểu tượng của sự thích nghi với thiên nhiên, của tinh thần cộng đồng và chiều sâu văn hóa dân tộc. Trong dòng chảy hiện đại, những ngôi nhà sàn truyền thống tồn tại như một phần hồn cốt của núi rừng miền Tây Nghệ An.
Những năm qua, chính quyền địa phương luôn chú trọng vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích người dân bảo tồn nguyên trạng kiến trúc nhà sàn truyền thống; sử dụng vật liệu truyền thống phù hợp với điều kiện hiện nay. Định hướng tương lai, địa phương sẽ xây dựng các điểm du lịch cộng đồng gắn bảo tồn nhà sàn trong các bản; chú trọng quy hoạch khu dân cư giữ bản sắc văn hóa dân tộc..../.
.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn