Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.

nha-san1-2305.jpg
Nhà sàn là công trình tổng hợp giữa kiến trúc xây dựng, nghệ thuật trang trí, thiết kế hài hòa với thiên nhiên, thích ứng với khí hậu miền núi và mang dấu ấn văn hóa đặc trưng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Hồn cốt nhà sàn người Thái nơi thung lũng

Nhìn từ đỉnh dốc Pù Huột, quần thể nhà sàn của đồng bào Thái ở xã Bình Chuẩn dưới thung lũng nổi bật với những mái nhà xếp lớp. “Lạc” vào các tiểu vùng văn hóa Thái ở các bản Xiềng, Đình, Nà Cọ, Mét... dễ dàng nhận thấy những ngôi nhà sàn dựng cao khỏi mặt đất từ 1,6m đến hơn 2m nhờ hệ thống cột gỗ lớn, tạo nên dáng vẻ thanh thoát nhưng vững chãi cho ngôi nhà.

nha-san2-2305.jpg
Hình khối, họa tiết và màu sắc trang trí hình đầu rồng trên cầu thang lên xuống của ngôi nhà sàn vẫn còn rõ nét dù đã trải qua hàng chục năm. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ông Kha Văn Khay, bản Na Cọ, xã Bình Chuẩn cho biết, theo quan niệm của người Thái, ngôi nhà vừa là nơi ở, sinh hoạt và là không gian gắn kết con người với thiên nhiên. Vì vậy, cấu trúc nhà sàn được thiết kế để thích nghi với điều kiện địa hình và khí hậu miền núi. Sàn nhà được làm cao nhằm tránh ẩm thấp và bảo vệ con người trước thú dữ, rắn rết, nước mưa, lũ hay sạt lở đất đá. Nhờ hệ thống cột chống chắc khỏe, nhà sàn có thể dựng trên những khu vực đất dốc mà không cần diện tích mặt bằng quá nhiều, giữ nguyên được địa hình tự nhiên của núi rừng. Phần gầm sàn là nơi để nông cụ sản xuất, củi đun và các vật dụng sinh hoạt. Trong khi đó, toàn bộ nhịp sống, sinh hoạt của thành viên gia đình diễn ra trên tầng hai - nơi có gian tiếp khách, chỗ nghỉ ngơi. Không gian bếp được bố trí liền kề ở đầu hồi.

nha-san3-2305.jpg
Họa tiết hoa văn trang trí trên lan can gần cầu thang lên xuống của ngôi nhà sàn tạo điểm nhấn cho không gian tầng 2 của ngôi nhà sàn của đồng bào Thái trong thung lũng Bình Chuẩn. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ông Lô Văn Mằn, bản Na Cọ, xã Bình Chuẩn chia sẻ, những cây cột nhà thường được làm từ các loại thân gỗ quý, bền chắc, có khả năng chịu được thời tiết khắc nghiệt, bền bỉ với thời gian, như: lim, sến, táu, kiển kiển, dổi, trai... Hàng chục năm trước, khi vào rừng chọn cây để làm cột, khung nhà, lát sàn, thưng vách... người Thái thường đi vào mùa khô - lúc cây cối sinh trưởng chậm, lượng nước trong thân cây ít. Cây gỗ khai thác vào mùa khô sẽ tránh được mối mọt. Tuy nhiên cây gỗ được chọn để đốn hạ lấy gỗ phải là cây thân thẳng, không có sâu đục thân, đặc biệt là không bị cụt ngọn - điều tối kỵ nhất khi chọn gỗ làm nhà.

nha-san4-2305.jpg
Đầu cầu thang của ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái ở xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An) được tạo tác mang hình đầu rồng cách điệu, thể hiện sự uy. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Khi dựng nhà, để tránh phần chân cột tiếp xúc trực tiếp với đất, phải kê chân cột lên những tảng đá được tạo thành trụ có tiết diện hình vuông, bát giác hoặc lục lăng. Cách làm này giúp hệ thống cột của ngôi nhà bền hơn, hạn chế tình trạng ẩm mốc và mối mọt theo thời gian. Đặc biệt là có thể bù, trừ sự chênh lệch ngắn dài của các cây cột, giúp ngôi nhà có sự thăng bằng trong điều kiện nền đất dựng nhà không bằng phẳng.

nha-san5-2305.jpg
Họa tiết hình trái tim trên có kích thước đủ lớn trên khu vực vòm nóc để vừa là nơi lưu thông không khí, tạo khoảng sáng bên trong căn nhà sàn và ngăn cản nước mưa hắt vào. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

“Điều đặc biệt trong kết cấu nhà sàn là toàn bộ hệ thống khung gỗ (cột nâng, hoành, kèo, dui, mè, xà dọc, xà ngang...) được liên kết với nhau bằng kỹ thuật chốt, ghép mộng truyền thống với độ chính xác và mang tính thẩm mỹ cao, thay vì dùng đinh sắt. Những mối ghép đã góp phần tạo nên sự chắc chắn cho cả công trình mà vẫn giữ được nét mềm mại, thanh thoát”, anh Lang Văn Tuất, bản Na Cọ cho biết thêm.

nha-san6-2305.jpg
Bộ phận “dui” chắn mái quanh mái nhà sàn được tạo họa tiết hình răng cưa. Ảnh: Xuân Tiến/TTTXVN

Đặc điểm ngôi nhà sàn của đồng bào Thái ở thung lũng Bình Chuẩn có bốn mái phẳng, đua dài, rộng ra che mưa, nắng cho toàn bộ ngôi nhà; trên mái không trang trí biểu tượng “khau cút” như mái nhà sàn của đồng bào Thái ở nhiều vùng Tây Bắc. Còn có sự khác biệt nữa là trong khi ngôi nhà sàn của đồng bào Thái ở Tây Bắc (thuộc 2 ngành Thái đen, Thái trắng) luôn có 2 cầu thang ở hai đầu nhà, gồm “tang chan” dành cho phụ nữ và “tang quản” dành cho nam giới lên, xuống thì nhà sàn của người Thái ở Bình Chuẩn (ngành Thái thanh) chỉ có duy nhất 1 cầu thang cho nam, nữ, già trẻ dùng chung.

Người Thái ở Bình Chuẩn còn đặc biệt coi trọng yếu tố phong thủy và áp dụng triệt để vào việc dựng nhà sàn. Họ quan niệm số lẻ tượng trưng cho may mắn và sự sinh sôi nên nhà sàn thường được làm theo cấu trú kiểu 3 gian, 2 chái (2 gian nhỏ ở 2 đầu hồi nhà) hoặc 5 gian, 2 chái. Số lượng cửa chính, cửa sổ cũng luôn là số lẻ để mang lại điều tốt lành cho gia chủ.

nha-san7-2305.jpg
Nhờ hệ thống cột đỡ và khung nhà mà nhà sàn có thể dựng lên chắc chắn ở khu vực dốc, không cần mặt bằng bằng phẳng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Độc đáo không gian văn hóa nội tại

Không chỉ mang giá trị về kiến trúc, nhà sàn của người Thái ở Bình Chuẩn còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của cộng đồng dân tộc. Mỗi ngôi nhà sàn không đơn thuần là công trình xây dựng mà còn là nơi gắn bó với vòng đời của mỗi con người. Từ khi sinh ra, lớn lên, lập gia đình cho tới lúc về già, mọi sinh hoạt của đồng bào Thái đều diễn ra trong không gian nhà sàn.

Ngay từ lối lên xuống, nhiều ngôi nhà sàn truyền thống đã gây ấn tượng bởi hình tượng đầu rồng được tạo tác ở hai đầu cầu thang. Những đường nét chạm khắc thủ công dù đã trải qua hàng chục năm vẫn còn rõ nét. Đầu rồng luôn hướng lên trên, mang ý nghĩa bay lên và phát triển. Đồng bào Thái gửi gắm vào đó những mong ước về cuộc sống ấm no, gia đình hạnh phúc và công việc làm ăn thuận lợi.

nha-san8-2305.jpg
Trong khi ngôi nhà sàn của đồng bào Thái thuộc 2 ngành Thái đen, Thái trắng ở Tây Bắc luôn có 2 cầu thang ở hai đầu nhà, gồm “tang chan” dành cho phụ nữ và “tang quản” dành cho nam giới thì nhà sàn của người Thái, ngành Thái thanh ở Bình chuẩn chỉ có duy nhất 1 cầu thang dùng chung để lên xuống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Lan can quanh cầu thang và khu vực hiên nhà cũng được trang trí bằng nhiều hoa văn. Các họa tiết hình răng cưa, hình ngôi sao năm cánh hay trái tim xuất hiện trên phần vòm nóc không chỉ tạo điểm nhấn thẩm mỹ mà còn giúp không khí lưu thông, đưa ánh sáng tự nhiên vào trong nhà và hạn chế nước mưa hắt vào khi trời giông gió. Chính sự kết hợp hài hòa giữa công năng sử dụng và nghệ thuật trang trí đã tạo nên vẻ đẹp riêng của nhà sàn người Thái.

nha-san9-2395.jpg
Cộng đồng người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn tin rằng con số lẻ mang lại may mắn, vì vậy, cấu trúc nhà thường có 3 gian 2 chái hoặc 5 gian 2 chái, tổng số cửa sổ và cửa chính cũng là số lẻ. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Bên trong ngôi nhà, các bộ phận hoành, xà nâng... thường được chạm khắc hình ảnh hoa sen, chim bồ câu, các loài hoa, lá... mang ý niệm thanh cao, tinh khiết, vừa phản ánh đời sống tinh thần phong phú, gắn kết hài hòa với tự nhiên của cư dân miền núi.

nha-san10-2205.jpg
Kết cấu nhà sàn có sự phân chia không gian rõ ràng: gầm sàn dùng để cất giữ nông cụ, vật dụng, củi đun… Còn phía không gian tầng 2 là nơi sinh hoạt chính của gia đình. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ông Lang Văn Tuất, bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn cho biết, nhà sàn cũng là nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng như cưới hỏi, cúng vía, buộc chỉ cổ tay, tiếp đón khách quý... Với người Thái, khách đến nhà luôn được mời lên gian chính, nơi trang trọng nhất để trò chuyện, thăm hỏi và thưởng thức những món ăn truyền thống. Những dịp lễ, Tết, mừng nhà mới, mừng lúa múa, làm vía... khu vực dưới nhà sàn là nơi dân bản quây quần chơi các trò chơi dân gian như: khắc luống, nhảy sạp, tó mắng, đánh cồng chiêng, múa xòe, uống rượu cần... Ngày nay, dù cuộc sống có nhiều đổi thay, nhiều gia đình đã xây dựng thêm các công trình phụ như mái che sân, khu tắm giặt tiện nghi hơn nhưng phần kiến trúc chính của ngôi nhà sàn vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn.

nha-san11-2305.jpg
Kết cấu hoành, xà nâng mái của ngôi nhà sàn được trang trí bằng hình tượng đài sen cách điệu. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Trưởng bản Na Cọ, ông Kha Văn Trang cho biết, ngày nay, giữa thời đại bê tông hóa mạnh mẽ, điều đáng quý là đồng bào Thái nơi đây vẫn lựa chọn dựng nhà sàn mới bằng gỗ, thay vì xây nhà vật liệu. Với đồng bào Thái, sống trong nhà sàn không chỉ là thói quen mà còn là cách giữ gìn phong tục, tập quán và bản sắc của dân tộc mình. Chúng tôi luôn tự hào về ngôi nhà sàn truyền thống mà gia đình đang sở hữu. Bởi mỗi một cột gỗ, nhịp cầu thang lên xuống hay từng họa tiết chạm khắc của căn nhà đều chứa đựng ký ức của nhiều thế hệ ông, cha. Bao đời nay, những nếp nhà sàn vẫn sớm chiều tỏa khói bếp, vang tiếng nói cười, diễn ra nhịp sống giản dị, bình yên của đồng bào người Thái giữa đại ngàn.

Ông Lô Văn Lý, Chủ tịch UBND xã Bình Chuẩn, tỉnh Nghệ An chia sẻ, toàn xã có 7 bản, đều là bản của đồng bào Thái, nằm dọc theo chiều dài thung lũng. Trong đó, mật độ nhà sàn truyền thống tập trung nhiều ở các bản Đình, Na Cọ, Xiềng... Vượt qua công năng nhà ở, ngôi nhà sàn của đồng bào Thái còn là biểu tượng của sự thích nghi với thiên nhiên, của tinh thần cộng đồng và chiều sâu văn hóa dân tộc. Trong dòng chảy hiện đại, những ngôi nhà sàn truyền thống tồn tại như một phần hồn cốt của núi rừng miền Tây Nghệ An.

nha-san17-2305.jpg
Dù các công trình phụ (mái che sân, khu vực tắm rửa, giặt giũ…) có sự thay đổi nhưng ngôi nhà sàn của người Thái ở xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An) vẫn giữ được kiến trúc, cấu trúc truyền thống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Những năm qua, chính quyền địa phương luôn chú trọng vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích người dân bảo tồn nguyên trạng kiến trúc nhà sàn truyền thống; sử dụng vật liệu truyền thống phù hợp với điều kiện hiện nay. Định hướng tương lai, địa phương sẽ xây dựng các điểm du lịch cộng đồng gắn bảo tồn nhà sàn trong các bản; chú trọng quy hoạch khu dân cư giữ bản sắc văn hóa dân tộc..../.

.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Nhiều năm gắn bó với nghệ thuật múa, Thạc sĩ Hà Trung, Phó Trưởng khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Lào Cai luôn dành tâm huyết nghiên cứu, giảng dạy và truyền dạy nghệ thuật Xòe Thái. Với anh, mỗi điệu xòe là một hình thức biểu diễn nghệ thuật, chứa đựng những giá trị văn hóa được cộng đồng người Thái lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Giữa nhịp sống phát triển của xã hội hiện nay, nhiều nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang dần bị mai một. Thế nhưng tại xã Khun Há tỉnh Lai Châu, những người phụ nữ dân tộc Lự vẫn miệt mài bên khung cửi, gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đồng thời từng bước đưa thổ cẩm trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bệnh viện Quân y 4, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 4, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo” với nhiều hoạt động thiết thực.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.