Nỗ lực vươn lên từ khó khăn
Sinh ra trong một gia đình làm nông còn nhiều khó khăn ở xã vùng cao Sà Phìn (Tuyên Quang), Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông, sớm hiểu rằng học tập sẽ giúp mình có thêm cơ hội lựa chọn tương lai. Cuộc sống gia đình còn nhiều thiếu thốn, mẹ lại mắc bệnh hiểm nghèo, nhưng những khó khăn ấy không làm cho Sinh từ bỏ việc học.
Trong những năm học tại Trường THPT Đồng Văn, xã Đồng Văn (Tuyên Quang), Sinh luôn có ý thức tự giác trong việc học. Không đợi đến gần các kỳ thi mới bắt đầu ôn tập mà cố gắng nắm chắc kiến thức ngay từ trên lớp.
Mỗi khi gặp những bài chưa hiểu, em chủ động hỏi thầy cô. Sau giờ học, em dành thời gian ôn lại bài, hệ thống kiến thức, làm bài tập và tìm hiểu thêm những phần còn yếu. Với các môn khối C00, chú trọng cách ghi nhớ theo từng nhóm kiến thức, thường xuyên ôn lại để tránh quên.
Những phần khó không được bỏ qua, em kiên trì tìm hiểu, kết hợp kiến thức trên lớp với tài liệu tham khảo để hiểu bài sâu hơn. Do điều kiện gia đình, em không có nhiều cơ hội học thêm mà chủ yếu dựa vào việc tự học và sự hướng dẫn của thầy cô.
“Em thường tranh thủ thời gian để tự học. Phần nào chưa hiểu thì em hỏi thầy cô hoặc tìm thêm tài liệu để học”, Sinh chia sẻ.
Với cô học trò vùng cao, việc học vì thế gắn với sự kiên trì từng ngày. Không có phương pháp quá đặc biệt, Sinh duy trì thói quen học tập phù hợp với mình, cố gắng hoàn thành từng phần kiến thức trước khi chuyển sang nội dung mới.
Ngoài học tập, Sinh còn là cán bộ lớp năng nổ, có trách nhiệm với công việc chung và tích cực tham gia các hoạt động của trường, lớp. Em được thầy cô và bạn bè tin tưởng bởi sự nghiêm túc trong học tập, nhiệt tình trong các hoạt động tập thể.
Cô giáo Cao Thị Tố Uyên, giáo viên chủ nhiệm cấp 3 của Sinh, đánh giá em là học sinh có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình và ý thức vươn lên.
“Sinh là một học sinh có nhiều điểm nổi bật, đặc biệt ở tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình và ý thức vươn lên. Không chỉ có thành tích tốt trong học tập, em còn là một cán bộ lớp năng nổ, tích cực tham gia các hoạt động của trường, của lớp. Điều tôi trân trọng ở em là sự kiên trì với mục tiêu đã đặt ra”, cô Uyên chia sẻ.
Những nỗ lực ấy được thể hiện rõ trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Sinh đạt 27,31 điểm khối C00 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội.
Với Giàng Thị Sinh, kết quả này mang đến niềm vui lớn cho bản thân và gia đình. Từ một cô học trò ở vùng cao, em chuẩn bị bước vào môi trường đại học, nơi ước mơ về nghề giáo được bắt đầu bằng những năm tháng học tập và rèn luyện mới.
Mong một ngày trở về quê hương gieo chữ
Nói về việc lựa chọn ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Sinh cho biết, em mong muốn sau này có một công việc ổn định để có thể tự lập và phụ giúp gia đình.
Bố mẹ làm nông nghiệp, cuộc sống còn khó khăn, trong khi mẹ mắc bệnh hiểm nghèo. Giàng Thị Sinh hiểu rằng sau khi trưởng thành, mình cần có khả năng chia sẻ gánh nặng với gia đình. Đó là một trong những động lực để em cố gắng học tập và lựa chọn nghề giáo.
Nhưng điều khiến Sinh gắn bó với ngành Sư phạm còn là một mong muốn khác, đó là được trở về cống hiến cho quê hương.
Lớn lên ở Sà Phìn, Giàng Thị Sinh hiểu cuộc sống của những học sinh vùng cao không phải lúc nào cũng thuận lợi. Điều kiện gia đình, khoảng cách đến trường hay những hạn chế về cơ hội học tập có thể khiến hành trình đến với con chữ của các em trở nên khó khăn hơn.
Sinh từng trải qua những năm tháng ấy nên em mong sau này có thể trở thành một giáo viên, được đứng trên bục giảng và đồng hành với học sinh quê mình.
“Em muốn quay về quê hương để có thể đem con chữ đến cho các em học sinh vùng cao, giúp các em có thêm cơ hội vươn lên”, Sinh nói
Với cô gái trẻ, nghề giáo vì thế không chỉ là lựa chọn cho tương lai của bản thân. Đó còn là cách để em có thể làm điều gì đó cho nơi mình sinh ra và lớn lên.
Sinh mong muốn những kiến thức mình học được tại Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội sau này sẽ có thể được sử dụng ngay tại quê hương. Em hy vọng khi đứng lớp, mình không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn có thể động viên học sinh cố gắng học tập, mạnh dạn theo đuổi những mục tiêu lớn hơn.
Sinh cho biết em sẽ tiếp tục cố gắng học tập, trau dồi kiến thức để chuẩn bị cho công việc sau này. Với em, trở thành cô giáo là mục tiêu đề ra, còn để thực hiện được mục tiêu ấy vẫn cần thêm nhiều năm học tập và rèn luyện.
Vào đại học là niềm vui lớn với Sinh và gia đình. Em hiểu rằng phía trước còn nhiều điều phải học, nhưng điều quan trọng là em đã chọn được ngành học mình yêu thích và phù hợp với mong muốn của bản thân.
Sinh dự định sẽ cố gắng học tốt tại Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, em mong có một công việc ổn định để phụ giúp bố mẹ, đồng thời trở về quê hương làm giáo viên, dạy học cho các em nhỏ vùng cao.
Đó có lẽ cũng là ý nghĩa lớn nhất phía sau số điểm mà Sinh đạt được, không chỉ mở ra cánh cửa đại học cho bản thân, mà còn giúp em tiến thêm một bước trên con đường thực hiện ước mơ trở về gieo chữ nơi quê nhà.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn