Ngày 30/8 tại thôn Lô Lô Chải, dưới chân Cột cờ Lũng Cú, xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang, Lễ cúng Tổ tiên của người Lô Lô đen được tổ chức với nhiều nghi thức truyền thống cùng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.
Lễ cúng Tổ tiên là một trong những nghi lễ quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Lô Lô đen, được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Theo quan niệm truyền thống, tổ tiên luôn hiện diện, dõi theo và phù hộ cho con cháu. Vì vậy, việc tưởng nhớ và thờ cúng tổ tiên không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Nghi lễ thiêng liêng hướng về nguồn cội
Trong mỗi gia đình Lô Lô, bàn thờ tổ tiên được đặt ở vị trí trang trọng giữa nhà. Phía trên bàn thờ có những hình nhân bằng gỗ, được xem là biểu tượng cho linh hồn tổ tiên.
Theo phong tục, mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên nhưng lễ cúng của dòng họ được tổ chức tại nhà trưởng họ. Trưởng họ là người chủ trì nghi lễ, trong khi các thành viên trong dòng họ cùng đóng góp lễ vật tùy theo điều kiện.
Lễ cúng gồm ba phần chính là lễ hiến tế, lễ tưởng nhớ và lễ đưa tiễn. Trước ngày diễn ra nghi lễ, lễ vật được chuẩn bị chu đáo, gồm gà, xôi, rượu, hoa tươi, trái cây và tiền vàng. Trong những năm trước, nghi lễ còn có nhiều lễ vật lớn như trâu, bò, lợn, cùng trống đồng và đèn dầu.
Người Lô Lô quan niệm tổ tiên được chia thành hai hệ. Tổ tiên gần, gọi là “dùy khế”, gồm các đời thứ 3, 4; tổ tiên xa, gọi là “pờ xi”, là những vị tổ từ đời thứ 5 trở đi.
Trong không gian linh thiêng, các nghi thức truyền thống như “ma cỏ”, “nhảy lễ”, đánh trống đồng được thực hành trang trọng. Âm thanh của trống, tiếng khấn và những bước nhảy trong nghi lễ tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng của cộng đồng Lô Lô đen nơi địa đầu Tổ quốc.
Ông Sình Dỉ Gai, già làng thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú (Tuyên Quang), cho biết lễ cúng Tổ tiên không chỉ là dịp để con cháu tưởng nhớ nguồn cội, biết ơn ông bà, mà còn góp phần gắn kết các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng.
Nếu trước đây nghi lễ chủ yếu được tổ chức trong phạm vi từng gia đình, hiện nay cộng đồng người Lô Lô đen tại Lô Lô Chải cùng tổ chức trong một ngày, qua đó tạo nên không khí đoàn kết và giúp các giá trị văn hóa truyền thống được lan tỏa rộng hơn.
Hằng năm, vào tháng 7 âm lịch, đồng bào Lô Lô đen tại thôn Lô Lô Chải lại hướng về ngày lễ quan trọng này. Đây là dịp để các gia đình, dòng họ gặp gỡ, tưởng nhớ tổ tiên và gửi gắm những mong ước về cuộc sống bình an, gia đình hạnh phúc, con cháu khỏe mạnh, mùa màng thuận lợi và bản làng đoàn kết.
Từ nghi lễ truyền thống đến trải nghiệm văn hóa
Không chỉ có ý nghĩa đối với cộng đồng, Lễ cúng Tổ tiên còn trở thành điểm nhấn thu hút du khách khi đến với Lũng Cú. Năm nay, chương trình được tổ chức với chủ đề “Di sản - nơi tìm về nguồn cội”, kết hợp giữa phần lễ và phần hội.
Bên cạnh việc tìm hiểu các nghi thức truyền thống, du khách còn có cơ hội thưởng thức các tiết mục văn nghệ, tham gia những trò chơi dân gian, hoạt động thể thao và khám phá đời sống văn hóa của đồng bào Lô Lô đen.
Đối với nhiều du khách, đây là dịp đặc biệt để được trực tiếp chứng kiến một nghi lễ vốn gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, thay vì chỉ tìm hiểu qua sách báo hay các phương tiện truyền thông.
Chị Đỗ Thị Phượng (Hà Nội) cùng gia đình có dịp đến Lũng Cú trong dịp nghỉ Lễ 2/9 chia sẻ: “Tôi rất ấn tượng khi được trực tiếp chứng kiến những nghi thức truyền thống của người Lô Lô đen. Điều đặc biệt là lễ cúng không chỉ mang màu sắc tâm linh mà còn cho thấy sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng. Đây là một trải nghiệm văn hóa rất đáng nhớ khi đến Lũng Cú”.
Không khí lễ hội cũng tạo cơ hội để thế hệ trẻ trong cộng đồng tiếp cận và thực hành những phong tục do cha ông truyền lại. Qua đó, các giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn trong không gian gia đình mà còn được đưa vào đời sống cộng đồng và hoạt động du lịch.
Lễ cúng Tổ tiên của người Lô Lô xã Lũng Cú được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012. Việc được ghi danh là sự ghi nhận đối với những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Lô Lô, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục bảo tồn, trao truyền và phát huy di sản trong đời sống đương đại.
Giữa không gian núi đá của Cao nguyên đá Đồng Văn, những nghi thức cúng tổ tiên, tiếng trống đồng và các hoạt động cộng đồng tạo nên một sắc màu văn hóa riêng của người Lô Lô đen. Qua mỗi mùa lễ, truyền thống được tiếp nối, để những câu chuyện về nguồn cội vẫn được kể lại và hiện diện trong đời sống của các thế hệ hôm nay.
Lễ cúng Tổ tiên vì thế không chỉ là một nghi lễ cổ truyền mà còn trở thành nơi cộng đồng tìm về cội nguồn, nơi các thế hệ gặp gỡ và cũng là một cách để văn hóa Lô Lô được giới thiệu đến du khách trong nước và quốc tế.
Tên tự gọi: Lô Lô.
Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.
Nhóm địa phương: Lô Lô hoa và Lô Lô đen.
Dân số: 4.541 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.
Lịch sử: Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng cực bắc của Hà Giang.
Hoạt động sản xuất: Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng nước và nương định canh với các cây trồng chính như lúa nếp, lúa tẻ và ngô. Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể.
Ăn: Người Lô Lô chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín. Bữa ăn phải có canh. Họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ.
Mặc: Phụ nữ có nhóm mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, có nhóm mặc áo cổ vuông chui đầu, quần chân què, có nơi bên ngoài còn quấn xà cạp. Trang trí trên y phục bằng hoa văn chắp ghép những mảng vải màu to. Họ có sử dụng hoa văn in bằng sáp ong.
Ở: Tuỳ từng nơi họ sống trong ba loại nhà: nhà trệt, nhà sàn hoặc nhà nửa sàn nửa đất ở các huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai).
Phương tiện vận chuyển: Người Lô Lô quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai để chuyên chở; địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.
Quan hệ xã hội: Người Lô Lô sống tập trung trong các bản tương đối ổn định. Tính cộng đồng tộc người thể hiện rõ nét.
Có hơn 30 dòng họ khác nhau. Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã. Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng họ.
Cưới xin: Phong tục cưới xin của người Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao (bạc trắng, rượu, thịt...). Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên chồng. Con trai cô có thể lấy con gái cậu song không được ngược lại.
Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai phải kiêng kỵ nhiều trong chế độ ăn uống và sản xuất. Sản phụ đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của bà mụ trong bản. Sau 12 ngày làm lễ đặt tên cho con và có thể đổi tên nếu đứa trẻ hay khóc hoặc chậm lớn.
Ma chay: Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.
Thờ cúng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh.
Lễ tết: Tết Nguyên đán như người Hán và người Việt. Ngoài ra còn có tục ăn Cơm mới, tết Ðoan ngọ, Rằm tháng Bảy...
Lịch: Họ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật.
Học: Khoảng thế kỷ thứ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Văn nghệ: Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Truyện kể rằng: xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.
Trống đồng với tư cách là nhạc khí chỉ được dùng trong đám tang, giữ nhịp cho các điệu múa dân gian của cộng đồng. Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.
Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên. Chỉ có trong đám ma mới đánh trống đồng. Ngày thường, người ra chôn trống dưới đất ở nơi sạch sẽ, kín đáo.
Theo cema.gov.vn