Vừa đi học, vừa chăn trâu, cắt cỏ, gặt lúa phụ giúp gia đình, Lò Văn Vĩnh ở Điện Biên đã nỗ lực để theo đuổi ước mơ một ngày được đứng trên bục giảng.
Từ tuổi thơ đầy gian khó
Lò Văn Vĩnh sinh năm 2002, dân tộc Thái, quê ở xã Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Tuổi thơ của Vĩnh gắn với những công việc đồng áng phụ giúp gia đình. Sáng đi học, chiều chăn trâu, cắt cỏ, gặt lúa, cậu bé Vĩnh sớm quen với những nhọc nhằn của cuộc sống vùng cao.
Gia đình thuộc diện khó khăn, bố mẹ phải làm lụng quanh năm để lo cho hai anh em ăn học. Dù vậy, bố mẹ vẫn luôn động viên các con cố gắng học hành. Với Vĩnh, đó là điểm tựa để cậu tiếp tục đến trường, kể cả những lúc tự ti vì cảm thấy mình học không giỏi, tiếp thu bài chậm hơn bạn bè.
Những năm học phổ thông, Vĩnh tranh thủ từng khoảng thời gian rảnh để tự học. Cơ sở vật chất ở trường còn thiếu thốn, nhưng hình ảnh những người thầy, người cô tận tâm với học sinh đã để lại trong cậu ấn tượng sâu sắc.
“Chứng kiến thầy cô của mình tâm huyết như vậy đã làm em cảm thấy rất ngưỡng mộ”, Vĩnh chia sẻ.
Từ sự ngưỡng mộ ấy, ước mơ trở thành giáo viên dần hình thành. Vĩnh mong một ngày được đứng trên bục giảng, truyền đạt kiến thức cho những học sinh có hoàn cảnh giống mình.
Lò Văn Vĩnh yêu thích Lịch sử từ những năm THCS, THPT. Những câu chuyện về các cuộc kháng chiến, những chiến thắng của dân tộc và lịch sử dựng nước, giữ nước khiến cậu học trò vùng cao ngày càng say mê môn học.
Nỗ lực học tập, Vĩnh thi đỗ với số điểm rất cao vào Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Cánh cửa giảng đường đại học mở ra cho Vĩnh một chặng đường mới.
Hơn 4 năm tại Hà Nội, ngoài việc học tập, Lò Văn Vĩnh tích cực tham gia các hoạt động của Nhóm sinh viên dân tộc Thái tại Hà Nội. Những hoạt động ấy giúp chàng sinh viên vùng cao có thêm bạn bè, trải nghiệm và tự tin hơn trong cuộc sống.
Rời quê lên thành phố học tập, Lò Văn Vĩnh từng nghĩ sau khi tốt nghiệp sẽ ở lại Hà Nội thêm vài năm để tìm cơ hội phát triển. Nhưng khi quê nhà tổ chức thi tuyển viên chức, những suy nghĩ về gia đình, quê hương và mong muốn được trở về làm việc trên chính mảnh đất mình sinh ra khiến Lò Văn Vĩnh thay đổi quyết định.
Con đường thi tuyển không dễ dàng, bởi Lò Văn Vĩnh không được đào tạo chuyên ngành sư phạm. Lò Văn Vĩnh phải tự tìm hiểu phương pháp giảng dạy, nghiên cứu các quy định liên quan đến giáo dục và tập giảng.
Có những lúc nhìn những tài liệu về nghiệp vụ, pháp luật, Lò Văn Vĩnh từng nản lòng. Nhưng nghĩ đến gia đình và mong muốn được trở thành giáo viên, thầy lại tiếp tục.
Ngày Hội đồng thi công bố danh sách trúng tuyển, nhìn thấy tên mình, Lò Văn Vĩnh xúc động và lập tức báo tin cho gia đình. Với thầy, đó không chỉ là niềm vui có một công việc ổn định mà còn là cơ hội để đỡ đần bố mẹ, hỗ trợ em gái đang học đại học.
Đến ngày trở về đứng trên bục giảng
Tại Trường PTDTBT THCS Tả Phìn, xã Sính Phình, tỉnh Điện Biên, thầy Vĩnh hiện giảng dạy môn Lịch sử và Địa lý.
Những ngày đầu đứng lớp không tránh khỏi bỡ ngỡ. Thầy phải học cách phân bổ thời gian trong một tiết học, quản lý lớp, tạo sự tương tác với học sinh và tìm cách truyền đạt kiến thức sao cho các em dễ hiểu, dễ nhớ
Điều khiến thầy Vĩnh trăn trở hơn cả là làm thế nào để học sinh yêu thích môn Lịch sử.
Theo thầy, học sinh vùng cao có những đặc điểm riêng. Nhiều em còn rụt rè, ít chủ động trao đổi với thầy cô. Có em gặp khó khăn trong cuộc sống nhưng không biết cách chia sẻ. Một số học sinh chưa nhận thức đầy đủ về việc học nên còn chểnh mảng.
Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải gần học sinh hơn. Thầy Vĩnh dành thời gian trò chuyện, tìm hiểu hoàn cảnh của từng em, không chỉ trong giờ học mà cả những câu chuyện phía sau lớp học. Theo thầy, khi học sinh cảm thấy được lắng nghe và tin tưởng, các em sẽ cởi mở hơn, từ đó việc học cũng thuận lợi hơn.
Với môn Lịch sử, thầy Vĩnh không muốn tiết học chỉ xoay quanh những mốc thời gian và sự kiện phải ghi nhớ. Thầy tìm cách thay đổi cách truyền đạt, đưa các trò chơi như “Hãy chọn giá đúng”, “Ai là triệu phú”, “Bắt cá”... vào bài giảng để học sinh được tham gia, trao đổi và chủ động hơn trong việc tiếp nhận kiến thức.
Bên cạnh nội dung trong sách giáo khoa, thầy còn đưa những câu chuyện, sự kiện lịch sử của dân tộc, của tỉnh Điện Biên và chính quê hương các em vào bài học. Những điều gần gũi với cuộc sống giúp học sinh dễ hình dung, dễ nhớ và có thêm sự quan tâm với môn học.
Với thầy Vĩnh, dạy Lịch sử không chỉ để học sinh nhớ một sự kiện hay một mốc thời gian. Quan trọng hơn là giúp các em hiểu những gì đã diễn ra, hiểu quê hương mình và biết trân trọng những thế hệ đi trước.
Ở tuổi 24, thầy Vĩnh xác định mình vẫn còn nhiều điều phải học trên hành trình làm nghề. Điều thầy mong muốn trước hết là giúp học sinh hiểu bài, yêu thích Lịch sử và dần thay đổi suy nghĩ coi đây là một môn học phụ.
“Tôi muốn tuổi trẻ của mình trôi qua theo cách rực rỡ nhất, cống hiến sức trẻ và nhiệt huyết của mình cho công tác giáo dục ở quê hương”, thầy Vĩnh chia sẻ.
Trong những năm tới, người thầy trẻ mong muốn gieo vào học sinh tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trân trọng những thế hệ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc.
Thầy thường nhắc mình và học trò câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.
Với thầy Vĩnh, những trang sử ấy không chỉ nằm trong sách giáo khoa hay thuộc về quá khứ. Qua mỗi bài học, thầy muốn học sinh hiểu hơn về quê hương, đất nước, hiểu vì sao cuộc sống hôm nay có được và từ đó biết mình cần làm gì để tiếp nối những giá trị tốt đẹp của các thế hệ đi trước.
Từ một cậu bé dân tộc Thái lớn lên trong gia đình còn nhiều khó khăn, từng chăn trâu, cắt cỏ sau giờ học, Lò Văn Vĩnh đã nỗ lực bước qua những ngày thiếu thốn để đến với giảng đường. Sau những năm học tập ở Hà Nội, thầy lại trở về Điện Biên, đứng trên bục giảng tại chính quê hương mình.
Nơi những ngày thơ ấu bắt đầu, thầy tiếp tục công việc của những người thầy mình từng ngưỡng mộ. Mỗi giờ lên lớp, mỗi câu chuyện lịch sử được kể lại là một cách để thầy gieo thêm những hạt mầm tri thức, nuôi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước trong học sinh vùng cao.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn