Nghệ thuật nhạc trống lớn: "Báu vật" tinh thần của người Khmer ở Cà Mau

Nghệ nhân ấp Cây Khô, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau biểu diễn nghệ thuật nhạc trống lớn. Ảnh: Huỳnh Anh - TTXVN
Nghệ nhân ấp Cây Khô, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau biểu diễn nghệ thuật nhạc trống lớn. Ảnh: Huỳnh Anh - TTXVN

Nghệ thuật nhạc trống lớn (Plêng Skôr Thum) ra đời, tồn tại và trao truyền hơn 100 năm qua ở vùng đất Cà Mau. Người Khmer ở Cà Mau luôn tin rằng, âm nhạc chính là linh hồn của họ. Họ xem nhạc trống lớn như “báu vật” không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần cần được gìn giữ, phát huy.

Giàu bản sắc truyền thống

Không riêng tại Cà Mau, bất kể nơi nào trên vùng Nam Bộngười Khmer sinh sống đều có quan niệm rằng, âm nhạc chính là linh hồn trong đời sống văn hóa tinh thần của họ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người dân nơi đây không ngừng sáng tạo và giữ gìn kho tàng văn hóa nghệ thuật vô cùng phong phú, đa dạng, đa sắc màu riêng biệt. Trong đó, bà con rất xem trọng chiếc trống lớn, coi đây là vật linh thiêng, “báu vật” trong đời sống tinh thần… thường được cất giữ ở các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer.

Nghệ nhân Hữu Qual, sinh hoạt trong nhóm trống lớn của chùa Cao Dân (huyện Thới Bình) cho biết, trống lớn không chỉ được người Khmer sử dụng trong các nghi lễ, lễ hội trang trọng mà còn là phương tiện thông tin đến phật tử thời gian nhập hạ của các vị sư.

Trống lớn là vật linh thiêng không ai dám sử dụng một cách tùy tiện mà chỉ dùng để đánh trống báo tin cho đồng bào phật tử đến chùa hoặc đến ngày lễ… Trống lớn thường được bảo quản nơi sạch sẽ và treo cao trong ngôi sala hoặc ngôi chính điện của chùa, nghệ nhân Hữu Qual chia sẻ.

Nghệ thuật nhạc trống lớn: "Báu vật" tinh thần của người Khmer ở Cà Mau ảnh 1Biểu diễn dàn nhạc trống lớn tại Chùa Rạch Giồng, ấp Đường Đào, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Ảnh: Huỳnh Anh – TTXVN

Nghệ thuật nhạc trống lớn là thể loại âm nhạc đặc biệt, với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Tùy từng bối cảnh nghi thức, nghi lễ các nghệ nhân cùng chơi những bản nhạc khác nhau. Chia sẻ thêm về nét độc đáo này, ông Thạch Nam Phương, Trưởng phòng Nghiệp vụ Bảo tàng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau dẫn chứng, tùy theo từng bối cảnh nghi thức, nghi lễ các nghệ nhân cùng chơi bài có giai điệu và cung bậc cảm xúc khác nhau như: buồn bã, chậm rãi, dìu dặt trong lễ tang; giai điệu trầm hùng, vang vọng chiến thắng trong lễ hạ thủy đua ghe Ngo; giai điệu nhẹ nhàng, hạnh phúc trong lễ cưới; giai điệu thanh thoát, hướng thiện trong các lễ nghi tôn giáo…

Dàn nhạc trống lớn gồm 15 loại nhạc cụ, gồm: Skor Thom, Koông Thom, Skor Đay (2 cái), T’ruô - U, T’ruô - Khse bây (T’ruô Khmer, T’ruô Nguôk), T’ruô - sô, Chapay-chomriêng, Pay Puốc, Pay - O, Khloy, Khưm, Chhưng, Tà Khê và Krap.

Các nghệ nhân cho biết, nghệ thuật nhạc trống lớn ở Cà Mau do ông Hữu Pinh, Hữu Mốt (từ Trà Vinh xuống Cà Mau lập gia đình, sinh sống ở vùng đất Tân Lộc, thuộc huyện Thới Bình) mang theo, thể hiện từ những năm cuối thế kỷ XIX.

Đến năm 1922, các vị sư, đồng bào phật tử và người dân lân cận góp vốn xây dựng chùa Trâu Trắng (Bạch Ngưu), nhạc trống lớn ở khu vực này bắt đầu được hình thành và thường xuyên chơi tại đây. Đến năm 1958, chùa đã dời về dọc tuyến Quốc lộ 63 và được đổi thành tên chùa Cao Dân (ngày nay). Cùng với việc xây dựng chùa, nhạc trống lớn dần đi vào ổn định. Đặc biệt, ở một số huyện có đông người Khmer sinh sống, khi diễn ra lễ hội lớn tại chùa, phum, sóc hoặc nhà của người dân, bà con sẽ mời nhóm nhạc ở phum, sóc khác đến cùng phục vụ diễn tấu.

Nghệ thuật nhạc trống lớn: "Báu vật" tinh thần của người Khmer ở Cà Mau ảnh 2

Cộng đồng của người Khmer ở tỉnh Cà Mau đã giữ gìn một kho tàng văn hóa nghệ thuật vô cùng phong phú, đa dạng, đa sắc màu riêng biệt. Ảnh: Huỳnh Anh – TTXVN

Ông Thạch Nam Phương cho biết thêm, nghệ thuật nhạc trống lớn là thể loại nghệ thuật âm nhạc đặc biệt được sử dụng trong lễ hội của đồng bào Khmer Cà Mau. Thời gian qua, dàn nhạc trống lớn của dân tộc Khmer huyện Thới Bình (tỉnh Cà Mau) đã được phát huy giá trị thông qua trưng bày tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, ở Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam…

Chung tay bảo tồn di sản

Hiện nay, tỉnh Cà Mau có 2 nơi trong huyện Thới Bình đang lưu giữ và phát huy nhạc trống lớn, gồm: Khu vực chùa Rạch Giồng, chủ yếu là ấp Cây Khô, xã Hồ Thị Kỷ và chùa Cao Dân, ấp 7, xã Tân Lộc, với khoảng 30 nghệ nhân tham gia.

Năm 2022, niềm vui của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau được nhân lên khi nghệ thuật nhạc trống lớn được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều này không chỉ là niềm vinh dự và tự hào của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh nói chung, huyện Thới Bình nói riêng mà còn góp phần trong việc gìn giữ, phát huy và bảo tồn giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh tốt hơn nữa thời gian tới.

Nghệ thuật nhạc trống lớn: "Báu vật" tinh thần của người Khmer ở Cà Mau ảnh 3Không riêng tại Cà Mau mà bất kể nơi nào trên vùng Nam Bộ có người Khmer sinh sống đều có quan niệm rằng, âm nhạc chính là linh hồn trong đời sống văn hóa tinh thân của họ. Ảnh: Huỳnh Anh – TTXVN

Biết tin nghệ thuật nhạc trống lớn của người Khmer được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ông Hữu Thảo, Bí thư Chi bộ ấp Đường Đào, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình cho biết, ông cùng bà con trên địa bàn ấp đều không giấu nổi niềm tự hào khi giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào được tôn vinh.

Ông Hữu Thảo khẳng định, nghệ thuật nhạc trống lớn từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của đồng bào Khmer trên địa bàn. Bởi cứ vào mỗi dịp lễ, hội đặc biệt, dàn nhạc trống lớn sẽ được biểu diễn để bà con cùng đến xem.
Trước đây, trên địa bàn ấp thành lập câu lạc bộ biểu diễn nhưng chỉ duy trì được một thời gian. Do đó, khi Nghệ thuật nhạc trống lớn được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, bà con không chỉ vui mừng mà còn tin tưởng rằng, giá trị di sản văn hóa quý báu của đồng bào Khmer sẽ được gìn giữ, phát huy, lưu truyền tốt hơn trong thời gian tới, ông Hữu Thảo tin tưởng.

Ông Trần Minh Nhân, Phó Chủ tịch UBND huyện Thới Bình cho biết, nghệ thuật nhạc trống lớn của người Khmer được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia khẳng định giá trị và sự đóng góp to lớn trong kho tàng văn hóa của đồng bào Khmer nói riêng, nhân dân huyện Thới Bình nói chung. Điều này góp phần thiết thực vào việc giữ gìn sự phong phú, đa dạng của kho tàng di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam.

Nghệ thuật nhạc trống lớn: "Báu vật" tinh thần của người Khmer ở Cà Mau ảnh 4Nghệ nhân ấp Cây Khô, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau biểu diễn nghệ thuật nhạc trống lớn. Ảnh: Huỳnh Anh - TTXVN

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau Trần Hiếu Hùng cho biết, dàn nhạc trống lớn có vị trí quan trọng, không thể thiếu trong đời sống cộng đồng của người Khmer tại địa phương. Thời gian tới, ngành tiếp tục phối hợp với địa phương củng cố, kiện toàn các câu lạc bộ, nhóm nhạc để bảo vệ và phát huy giá trị di sản…

Được biết, nghệ thuật nhạc trống lớn của người Khmer, huyện Thới Bình là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia thứ 4 tại Cà Mau và là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia đầu tiên của đồng bào Khmer địa phương.

Huỳnh Anh

(TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Nhiều năm gắn bó với nghệ thuật múa, Thạc sĩ Hà Trung, Phó Trưởng khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Lào Cai luôn dành tâm huyết nghiên cứu, giảng dạy và truyền dạy nghệ thuật Xòe Thái. Với anh, mỗi điệu xòe là một hình thức biểu diễn nghệ thuật, chứa đựng những giá trị văn hóa được cộng đồng người Thái lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Giữa nhịp sống phát triển của xã hội hiện nay, nhiều nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang dần bị mai một. Thế nhưng tại xã Khun Há tỉnh Lai Châu, những người phụ nữ dân tộc Lự vẫn miệt mài bên khung cửi, gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đồng thời từng bước đưa thổ cẩm trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bệnh viện Quân y 4, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 4, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo” với nhiều hoạt động thiết thực.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).