Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra đối với Khánh Hòa không chỉ dừng ở việc khai thác hiệu quả các lợi thế về kinh tế biển, du lịch, đô thị mà còn đòi hỏi khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh từ văn hóa và con người. Đây được xác định là yếu tố quyết định chiều sâu, bản lĩnh và tính bền vững của quá trình phát triển trong giai đoạn mới.
Gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa
Những ngày xuân, trong không gian yên bình của làng Chăm phía Nam tỉnh Khánh Hòa, âm thanh lách cách của khung dệt vẫn đều đặn vang lên tại Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (xã Ninh Phước). Trên những khung cửi gỗ đã nhuốm màu thời gian, các nghệ nhân tỉ mỉ đưa thoi, kết sợi, dệt nên những hoa văn cổ đặc trưng. Mỗi đường nét, gam màu hiện lên hài hòa, phản ánh chiều sâu văn hóa và dấu ấn lịch sử của cộng đồng người Chăm được gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Ở tuổi 82, bà Bá Thị Mới vẫn gắn bó với khung dệt quen thuộc. Bà cho biết, nghề dệt được bà học từ mẹ khi mới 15 tuổi. Đến nay, dù tuổi cao, đôi tay không còn nhanh nhẹn như trước, bà vẫn kiên trì truyền dạy cho con cháu từng kỹ thuật, từng bí quyết dệt với mong muốn nghề truyền thống không bị mai một. Theo bà, mỗi họa tiết trên tấm thổ cẩm không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn gắn với tín ngưỡng, lễ nghi và những dấu mốc trong cuộc đời người Chăm. “Giữ nghề cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình”, bà Mới chia sẻ.
Sản phẩm thổ cẩm truyền thống của Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp (xã Ninh Phước) với hoa văn đặc trưng, giàu bản sắc văn hóa.
Ông Phú Văn Ngòi, Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp cho biết, hiện hợp tác xã có 52 thành viên tham gia sản xuất. Hợp tác xã được Nhà nước đầu tư nhằm hai mục tiêu chính là bảo tồn nghề dệt truyền thống của đồng bào Chăm và tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương. Theo ông Ngòi, dù từng trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, tập thể hợp tác xã vẫn kiên trì với định hướng gìn giữ và phát huy nghề truyền thống, quyết tâm không để nghề bị mai một. Thời gian qua, hợp tác xã đã sưu tầm các hoa văn cổ trong cộng đồng, tiến hành số hóa, phục dựng và đưa vào sản xuất. Đơn vị đã đào tạo 12 nghệ nhân để truyền dạy kỹ thuật cho thế hệ thợ trẻ, góp phần tiếp nối và bảo tồn nghề dệt của người Chăm.
Sau hợp nhất, Khánh Hòa bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian địa lý mở rộng, đồng thời sở hữu nền tảng văn hóa đa dạng. Sự hội tụ của các cộng đồng dân tộc như Kinh, Chăm, Raglai cùng các dân tộc thiểu số khác đã tạo nên bức tranh văn hóa nhiều sắc màu, vừa mang tính đặc trưng, vừa có sự giao thoa. Văn hóa Chăm với hệ thống tháp cổ, các lễ hội Katê, nghề gốm, dệt thổ cẩm cùng kho tàng tri thức dân gian phong phú, góp phần làm nên chiều sâu văn hóa địa phương. Trong khi đó, văn hóa Raglai được thể hiện qua sử thi, nhạc cụ truyền thống, lễ bỏ mả và các hình thức diễn xướng dân gian gắn với đời sống núi rừng và vòng đời con người.
Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc được tỉnh Ninh Thuận (cũ) và tỉnh Khánh Hòa sau hợp nhất quan tâm triển khai đồng bộ. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được rà soát, lập hồ sơ bảo tồn; các lễ hội truyền thống, làng nghề và tri thức dân gian được khuyến khích gìn giữ gắn với đời sống cộng đồng. Việc bảo tồn không chỉ dừng ở lưu giữ giá trị truyền thống mà còn hướng tới phát huy trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Động lực tăng trưởng bền vững
Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Pô Nagar (phường Bắc Nha Trang) là điểm đến du lịch văn hóa, tâm linh, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Khánh Hòa hiện có 257 di sản văn hóa được xếp hạng, trong đó có 3 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, 3 di tích quốc gia đặc biệt, 5 bảo vật quốc gia và 33 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. Hệ thống di sản phong phú này không chỉ phản ánh bề dày lịch sử, chiều sâu văn hóa của địa phương mà còn là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, nâng cao sức cạnh tranh của ngành kinh tế mũi nhọn.
Định hướng phát huy giá trị văn hóa được đặt trong bối cảnh ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời là động lực và trụ cột cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương, trong đó có Khánh Hòa, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Cây Nêu của người Raglai, sử dụng trong Lễ mừng lúa mới, được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa cơ sở 2 (phường Phan Rang).
Theo nhiều chuyên gia, bên cạnh lợi thế về kinh tế biển, du lịch và đô thị, Khánh Hòa cần đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Thực tiễn cho thấy, nơi nào văn hóa được coi trọng, nơi đó tạo dựng được sự ổn định xã hội, đồng thuận cộng đồng và sức bật dài hạn. Việc xây dựng hệ giá trị con người Khánh Hòa gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa biển đảo, tinh thần đoàn kết, nghĩa tình, năng động và khát vọng vươn lên được xem là “nguồn lực mềm” có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tăng trưởng trong tương lai.
Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 14/7/2025 của Tỉnh ủy Khánh Hòa đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2025 - 2030 xác định du lịch - dịch vụ là một trong bốn trụ cột phát triển của tỉnh. Trên cơ sở đó, Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được triển khai với mục tiêu đến năm 2030 đón khoảng 33 triệu lượt khách lưu trú, trong đó khách quốc tế chiếm 40 - 45%, tổng thu từ du lịch đạt khoảng 9 tỷ USD.
Bộ nhạc cụ truyền thống của đồng bào Raglai được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa, cơ sở 2 (Phường Phan Rang).
Để hiện thực hóa các chỉ tiêu đề ra, chiến lược xác định 6 nhóm giải pháp then chốt và 36 nhiệm vụ trọng tâm, tập trung vào hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ, hướng tới phát triển du lịch bền vững.
Theo định hướng, Khánh Hòa ưu tiên phát triển các loại hình du lịch có lợi thế như du lịch biển, đảo; du lịch hội nghị, hội thảo; du lịch sinh thái; du lịch cộng đồng; du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe; du lịch di sản văn hóa và du lịch tâm linh. Các loại hình này được phát triển gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa địa phương. Việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển du lịch với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường được xác định là giải pháp lâu dài nhằm xây dựng thương hiệu du lịch Khánh Hòa mang bản sắc riêng, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Du khách nước ngoài tham quan, tìm hiểu quy trình dệt thổ cẩm tại Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp (xã Ninh Phước).
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Văn Hòa cho biết, địa phương đang tập trung lựa chọn những giá trị di sản tiêu biểu để xây dựng sản phẩm du lịch đặc sắc; đẩy mạnh số hóa dữ liệu di sản; đầu tư hạ tầng gắn với các di tích văn hóa; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cùng với đó, tỉnh khuyến khích người dân tham gia bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa thông qua các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch xanh, góp phần tạo sinh kế và lan tỏa lợi ích phát triển.
Phát huy bản sắc văn hóa không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn di sản mà còn là giải pháp chiến lược nhằm tạo dựng nền tảng phát triển bền vững. Khi văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, Khánh Hòa sẽ có thêm động lực để tăng trưởng nhanh, bền vững và từng bước khẳng định vị thế trong giai đoạn mới./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn