Say đắm điệu “Xường” dân tộc Mường

Say đắm điệu “Xường” dân tộc Mường
“Xường” – là một loại dân ca không thể thiếu được trong đời sống của người Mường. Nó thường sử dụng trong hát giao duyên trai gái, bộc lộ những tâm tình nỗi lòng trong cuộc sống tình cảm. Nguồn gốc của “Xường” được các già làng truyền lại rằng: Xưa có mụ Dạ Dần (nữ thần sáng tạo) gánh xường đi qua miền đất xứ Thanh. Không ai biết mụ sẽ trao xường ở đâu và cho ai. Bỗng nhiên gánh xường đứt quai, một sọt rơi xuống mường Ai, còn đầu kia rơi xuống mường Ống, gánh xường còn rơi vãi khắp nơi, dân mường Ống, mường Ai bèn rủ nhau ra nhặt. Vì vậy mà xường mường Ống và mường Ai được cho đó là xường gốc. Với sự kiện mang đậm tính huyền thoại này đến nay dân gian vẫn hằng nhắc nhớ: “đứt gánh mường Ai, đứt quai mường Ống”, địa danh đứt này thuộc đồi Lai Ly, Lai Láng, mường Ai nay thuộc xã Văn Nho, Kỳ Tân; mường Ống thuộc các xã Điền Trung, Điền Quang huyện Bá Thước, nơi có dãy Pù Luông quanh năm mây phủ và dòng Mã giang hùng vĩ, cuồn cuộn đổ về xuôi. Bởi vậy, người Mường Thanh Hoá từ bao đời nay rất trân trọng và tự hào với di sản văn hoá – xường của các thế hệ cha ông truyền lại: Đất thì xường, mường thì rang/ Kẻ Chợ, Mường Ngoài còn đang có tiếng, cả một vùng Mường quê Thanh nơi đâu cũng cất cao khúc hát tâm tình.
 
Thiếu nữ Mường. Ảnh: daidoanket.vn
Thiếu nữ Mường. Ảnh: daidoanket.vn

“Xường” của người Mường khi hát giao duyên chủ yếu là về đêm. Môi trường và không gian diễn ra trên ngôi nhà sàn. Nam ở gian ngoài, nữ ở buồng trong, có bếp lửa hồng và ngọn đèn dầu. Người ta còn gọi đó là áng Xường. Đến với áng Xường còn có nhiều trai gái người đứng tuổi ngồi nghe thưởng thức. Ở đó đôi trai gái lấy lời hay ý đẹp, giọng tốt để trao đổi tình cảm. Có nhiều “bạn đôi Xường” hát với nhau cả đêm còn chưa thấy mặt. Đó là các trường hợp trai, gái mường xa đến chơi, giữa chủ và khách cùng hát với nhau. Trong hát đối của các đôi nam nữ, tùy thuộc vào tài năng của chàng trai, cô gái mà lời hát là những câu hỏi ý tứ sẽ thể hiện được thái độ vui vẻ, giận hờn, trách móc hay nũng nịu, đằm thắm. Chính vì vậy, các chàng trai thường trổ hết tài năng của mình khi học hát xường.

Nhìn chung ở cái ngày xưa ấy, con trai, con gái lớn lên cùng với công việc đồng áng, nương rẫy, cày cấy, chăn tằm, con trai phải lo học thổi sáo, đàn môi, học Xường, con gái lo thêu dệt và học Xường. Không hát Xường được, không dám đi chơi xa và cũng không có bạn bè. Hát Xường trở thành một sinh hoạt, một nhu cầu và một đam mê tất yếu của người Mường, nhất là ở lớp trẻ.

Trong các loại dân ca Mường, hát “Xường” không dễ, nhất là loại Xường gốc “Xường cân” (trừ loại Xường tự do). Bởi vì loại Xường gốc, Xường cân bản thân nó đã có cấu tứ riêng biệt chặt chẽ. Nó đòi hỏi người hát phải tuân theo các bước, các cung và các bậc nhất định. Trong các bậc của Xường lại có “dắt hoa” (cái Wa), “theo tiếng chim” (pẳt siềng chim) đôi khi trong một bậc lại có “rẽ ngang, dán cách” (T,reẻ Zán) hoặc giam bậc, chài ra (xán xa) nghĩa là một bên muốn nhanh lên bậc trên, nhưng một bên lại muốn giữ lại, ghìm lại, đòi hỏi “đôi bạn Xường” phải gỡ, gỡ ra được mới là tay cao Xường. Tương tự như vậy ở cung đầu, mặc dù bên khách đã có thể bằng lòng cùng nhau hát Xường đêm nay “cho vui áng” hát “cùng nhau cho rạng đêm”. Nhưng khi vào cuộc là “đối tác” (nhất là bên nữ) không phải đã dễ hát ngay. Muốn bên nữ (khách) hát thì bên nam phải có Xường chào, hỏi, mời hát. Mời chưa hát thì nài, nài không được thì dỗ, dỗ không được thì khích:
    Em có cồng vui sao em không gióng

    Em không gióng nhiều cũng nên

                                        gióng ít

    Dẫu em tiếc, em kẹt cũng gióng vài dùi

    Thử xem âm thanh còn vui hay đã

                                       mất tiếng!?

Kết thúc cuộc Xường có thể là một đêm có thể là ba đêm. Buổi kết thúc có khi họ đã mê nhau thì họ hát Xường thề, nhưng phổ biến là Xường tiễn biệt với lời thương nhớ quyến luyến, nhắn gửi:

“Xường” của người Mường, nhất là Xường bậc có vị trí lớn trong văn hóa dân gian Mường. Nó làm cho tiếng Mường trở nên trong sáng, làm cho tâm hồn Mường trở nên phong phú và nâng cao giá trị nhân văn trong văn học dân gian Mường. Nó có giá trị đóng góp vào nền văn học dân gian của các dân tộc Việt Nam.

“Xường” Thanh Hóa có thể phân làm các loại sau:

Xường tự do và Xường cân, còn gọi là Xường bậc. Xường tự do thường là thể hiện sự cảm xúc tản mạn về nhiều mặt của cuộc đời, thân phận con người. Xường tự do là hình thức “độc” diễn phản ánh mọi sắc thái tình cảm của cư dân Mường trong cuộc sống, người hát tự do sáng tác hoặc hát theo lời ca có sẵn được trao truyền trong cộng đồng

Xường bậc là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, có thể thức, cung cách riêng, người hát có tài ứng đáp và giọng hát truyền cảm, có sức lan toả và lay động tâm hồn. Xường là làn điệu hát dân gian, được dùng để ca ngợi, phản ánh tâm tư tình cảm, nguyện vọng của nhân dân, để trai gái tỏ tình, làm quen với nhiều hình thức đa dạng. Xường có nhiều loại: xường chúc, xường kể, xường Đang, xường trai gái – giao duyên.

Xường bậc có quy mô lớn, dài hơi hơn, có quy củ, căn cốt hơn. Ở đó có các bước, các cung bậc. Có thể thấy ở loại Xường này có hai cung rõ rệt. Cung đầu có thể gọi đó là cung mở đầu để đi vào Xường bậc. Người Mường gọi đó là cung “lượn áng”. Cung này thường thấy có các bước: Xường chào hỏi, Xường mời, nài, Bước chân ra đi, Ngoái trông, Khen đất khen mường, Khen giàu có, Đánh thức Xường, Sự tích Xường, Trồng bông trồng hoa, Trồng Kè, Mở đường. Như vậy ở cung đầu này cũng đã ít nhất có 11 bước, từ Chào hỏi cho đến Mở đường. Mở đường (Phảt Khà) được biểu tượng như là mở đường cho đường vào đêm hát, đường tình, đường nghĩa. Khi đã phát được đường, bắc được cầu: “Nên lối em đi nên đường anh lại” thì Xường chuyển sang cung thứ hai là “lên bậc”.

Xường có cung có bậc thì đã rõ, nhưng có bao nhiêu bậc? Dân gian bảo rằng có 12? Cũng cần làm quen trong FolKlore con số ít khi là con số số học, phần lớn đều là con số ước lệ. Đừng vội tin rằng con số 3, số 9, số 12, 18 và 36 là con số chính xác. “Mười hai bà mụ”, “mười hai bến nước”, “ba mươi sáu chước”… đó chẳng qua là để nói số nhiều mà thôi. Cho nên nói Xường có 12 bậc cũng theo kiểu cách đó. Nhưng nhiều bậc trong đó thì đã rõ. Tên của các bậc đều là tiếng Mường cổ mang tính tượng hình theo một chiều cao dần phù hợp với cung bậc tình yêu hoặc gợi lên một cái gì cụ thể. Bậc 1 có tên “góp nhặt” (cu nhu cỏp nhỏp), ở đây là sự tìm tòi, gom góp, nhặt nhạnh những ý hay lời đẹp để hát Xường với nhau. Các bậc có tên tiếng Mường mang tính gợi hình: Lêu lao lên lồm, poong soong poót soót, Zờm Zờm, Zằng Zắng… Cách hát, còn có thể gọi là trình diễn ở mỗi bậc đều có gài hoa (cái Wa) theo tiếng chim (pẳt siềng chim) khác nhau. Đôi trai gái hát với nhau đều phải theo “căn cốt” của Xường có đối có đáp nhưng lại phải có vận dụng, sáng tạo “theo nó mà vượt lên nó”. Đó mới là người giỏi Xường. Cung bậc, căn cốt không làm hạn chế sự sáng tạo của người hát Xường.

Xường chúc thường được sử dụng trong những ngày vui như vào dịp năm mới, cầu chúc cho: Dưới sân lắm trâu nhiều bò/Trên nhà nhiều lúa chăm, lúa nếp… Có nhiều con trai/Có nhiều con gái/Con trai đan lưới gian ngoài/Con gái dệt vải gian trong… cuộc sống sung túc, an lành, mạnh khỏe, chúc về nhà mới, chúc mừng đám cưới, đứa trẻ chào đời… Xường kể (mo) thường hát khi có chuyện buồn trong tang ma. Xường kể về sự ra đời của vũ trụ, con người, muôn vật, lời dặn của người mất đối với gia đình, làng nước, niềm thương xót, nhớ nhung không quên đối với người đã khuất khi từ biệt cõi đời…

Trong số các loại xường thì xường trai gái là hình thức phong phú và có nhiều bài hát nhất. Xường trai gái là các bài ca trao duyên, trao tình giữa một bên là trai thanh và một bên là gái lịch, thông qua lời hát để bén duyên nhau mà nên chồng vợ. Xường trai gái là lời hát cất lên từ trái tim rạo rực thương yêu, không phân biệt địa vị cao thấp trong xã hội hay hát xường vì vật chất.

Xường giao duyên chủ yếu là hát về đêm: Đêm nay anh lắng em xường/Nghe chưa liền anh đường cố chấp/Em xường chưa liền khúc anh chớ có cười/Hát “cho vui áng” hát “cho rạng đêm”. Môi trường và không gian diễn ra trên ngôi nhà sàn, còn gọi đó là áng xường. Trong những cuộc hát xường thường có đầy đủ trà nước, trầu, thuốc lào… mọi người dùng chung và đèn đuốc cũng được thắp sáng để tiện cho việc trai gái có thể nhìn mặt chọn bạn tìm hiểu lẫn nhau… nam ở gian ngoài, nữ ở buồng trong. Đến với áng xường còn có người già và trẻ nhỏ ngồi nghe thưởng thức. Hát xường diễn ra giữa trai gái trong làng hay từ mường xa đến chơi, giữa chủ và khách cùng hát với nhau.

Với xường giao duyên, thường trong cuộc hát có hai bước chính là “lượn áng” và vào bậc. Bước thứ nhất có các chặng đó là xường chào và xường mời. Xường chào là lời chào khách của chủ, thăm hỏi, thể hiện sự kính trọng lịch sự và lễ độ giữa chủ và khách. Xường chào thường mở đầu bằng những lời hỏi thăm quê quán:“Em từ cửa nhà đi ra chơi áng/Em đi đến nơi Cun Khang bán đất/ Em đi khuất chỗ Cun Khang bán đạo/ Em ở đất mường nào lắm cun nhiều quan?… Xường mời thông thường bên chủ mời bên khách hát xường, nếu chủ mời không được thì chủ nài nỉ khách. Chủ đã hát xường nài rồi mà khách vẫn chưa chịu hát thì phải dỗ, tiếp tục nài và dỗ bằng được cho đến khi khách lên tiếng để rồi cả hai bên cùng nhau đối đáp với lời hát vừa thăm dò vừa khiêm nhường, ý nhị:
 
Nữ: Em xường chưa liền anh

                                 đừng cố chấp

Em xường chưa liền khúc anh

                                 chớ có cười

Nam:   Lắng xường em nói chưa liền

                             anh đâu dám chấp

Xường em chưa liền khúc

                            anh đâu dám chê…

Xường “lượn áng” là khúc dạo đầu của cuộc hát xường, chưa gửi lời thương trao lời nhớ, nhiều khi tuy chỉ mới là lời hát chào mời mà đã thâu đêm suốt sáng.

Bước hai của xường giao duyên là xường lên bậc: Xường đã có căn có cốt/Tìm đặt câu đẹp lời hay/ Để đêm nay ta lên chơi xường bậc… Xường có nhiều bậc và thường cho là 12 bậc ứng với mười hai tháng của một năm và phải hát tuần tự: Bậc một gọi là “cu nhu cọp nhọp” thể hiện sự tìm tòi, thu lượm những lời hay ý đẹp để trao duyên trao tình với nhau. Các bậc tiếp theo là: Zờm Zờm, poong soong poót soót, Zằng Zắng, lêu lao, lên lồm,… Cách hát ở mỗi bậc đều có gài hoa (cái wa) để lên bậc, trong mỗi bậc lại có phần phát triển “trẻ zán” khác nhau làn cho cuộc hát thêm sinh động và hấp dẫn. Trai gái hát đối đáp với nhau đều phải tuân thủ theo quy tắc của xường vừa phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với chủ đề, cách thức mà người hát đối với mình đưa ra.

Thông thường, cuộc xường có thể là một đêm, cũng có khi là ba đêm. Khi kết thúc có xường thề, xường dặn, và xường tạm biệt. Xường thề, xường dặn thường kết hợp với nhau, còn xường tạm biệt hát sau cùng với lời hát gửi thương, gửi nhớ, thiết tha sâu nặng: Ước chi ta đi củi chung một vác/Đi nác chung một giếng/Náu nướng chung một bóng râm/ Trời mưa lam thâm đội chung nón kín…, đến lúc chia xa thì: Em về chốn xa đất xa mường/Anh gửi em nón trắng đi đàng/ Gửi em trầu nang ăn sá… và cùng hẹn nguyền kết tóc, xe tơ: Muốn cho tiện nẻo đi về/Anh sang làm rể em về làm dâu…

Như vậy ta thấy ở các cuộc hát “Xường” nổi lên ở hai điểm, đó là cuộc sinh hoạt văn hóa: thi hát lời hay giọng tốt, đối đáp thông minh và quan trọng là đôi bạn tình tìm đến nhau bởi cảm mến vì tình.

Khác dân tộc Thái, dân tộc Mông có tục bắt vợ, hay tục ngủ thăm của một số dân tộc phía Bắc thì tục tìm bạn đời của người Mường, Thanh Hóa trước đây lại mang một màu sắc khác. Hát “Xường” phải luôn được sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh, tình cảm của người hát.
Theo baohoabinh.com.vn

Có thể bạn quan tâm

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bệnh viện Quân y 4, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 4, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo” với nhiều hoạt động thiết thực.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.