Bảo tồn và phát huy điệu lượn Slương của người Tày ở Cao Bằng

Bảo tồn và phát huy điệu lượn Slương của người Tày ở Cao Bằng

Lượn Slương là một làn điệu dân ca độc đáo, đặc sắc của người Tày vùng Việt Bắc nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng. Hiện nay do tác động của cơ chế thị trường, thế hệ trẻ người dân tộc Tày ít người quan tâm đến thể loại dân ca cổ truyền này, khiến cho điệu lượn Slương có nguy cơ mai một và mất hẳn. Vì vậy, các ngành chức năng tỉnh Cao Bằng cần có những giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn của thể loại dân ca độc đáo này.

Theo Thạc sĩ Hoàng Thị Nhuận, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Cao Bằng, qua những nghiên cứu về Văn hóa học, Dân tộc học, Văn học dân gian và những văn tự Nôm của người Tày thì lượn Slương khởi nguồn từ huyện Thạch An (tỉnh Cao Bằng) rồi lan truyền đến các vùng lân cận thông qua giao lưu văn hóa tại các lễ hội Xuân hoặc các cuộc hẹn hò giao duyên của thanh niên làng, bản. Lượn Slương được truyền từ đời này qua đời khác theo phương thức truyền khẩu. Do có lịch sử lâu dài nên lượn Slương được coi là pho di sản văn hóa độc đáo quý báu của người Tày.

Thạc sĩ Hoàng Thị Nhuận cho biết thêm, giá trị của lượn Slương nằm ở sự độc đáo về nội dung và nghệ thuật của điệu lượn này. Lượn Slương gồm ba phần là lượn đi đường, lượn sử và lượn chúc mừng. Lượn Slương (nghĩa là lượn Thương) là bộc bạch niềm thương nhớ. Niềm nhớ thương của một tình yêu đã nặng sâu nặng. Cách diễn đạt của lượn Slương mang đậm sắc màu độc thoại hơn là những dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ đối thoại…

Lượn Slương phát triển mạnh nhất vào giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Sau đó, cả nước bước vào các cuộc kháng chiến chống giặc ngoài xâm, lượn Slương cũng lắng xuống. Tuy nhiên, lượn Slương vẫn sống âm thầm trong lòng những cụ già yêu thích điệu lượn đặc trưng của dân tộc và mong muốn được phục hồi điệu hát cổ truyền này.

Bà Đinh Thị Đà, 77 tuổi, ở xã Đức Xuân, là một trong những người lớn tuổi nhất của huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, còn yêu và hát điệu lượn Slương. Bà Đà cho biết, trước đây khi còn trẻ bà đã được các cụ bà trong bản dạy hát lượn Slương. Bà lớn lên cùng điệu lượn ngọt ngào, yêu thương đó. Lượn Slương cứ ngấm vào con người cho đến khi bà đi học, đi làm. Cuộc sống tất bật, hai cuộc kháng chiến trường kì cũng làm bà ít hát điệu hát cổ truyền của dân tộc mình.

Đến năm 1985, khi nghỉ hưu, bà Đà bắt đầu sưu tầm và ghi chép lại các bài lượn. Năm 2013, khi Nhà nước có chính sách khôi phục văn hóa các dân tộc thì bà Đà cùng một số người yêu điệu lượn thành lập các nhóm hát lượn Slương xã Đức Xuân, huyện Thạch An. Nhóm hát của bà Đà gồm 8 thành viên, trong đó có hai người 80 tuổi là những người yêu thích văn hóa dân gian, cùng nhau sưu tầm và hát lượn. Nhóm hát lượn của bà Đà thường xuyên đi biểu diễn hát lượn trong các buổi giao lưu ở các thôn, xã trên địa bàn huyện, tham gia các cuộc thi hát dân ca của tỉnh Cao Bằng.

Theo bà Đà, qua những buổi biểu diễn, bà nhận thấy nhiều người Tày vẫn còn yêu thích điệu lượn Slương bởi nội dung những bài lượn Slương là ca ngợi tình cảm giữa con người với con người; giáo dục, khuyên bảo con người sống tốt với nhau... Mặc dù vậy, bà Đà cũng lo lắng, khi lớp người trẻ ở Đức Xuân không ai hát được điệu lượn Slương. Nếu không có người hát được thì sự cảm nhận về điệu hát ngọt ngào, đầy tình yêu thương này không còn... Vì vậy, bà Đà cũng như những người còn biết hát điệu lượn Slương mong muốn các ngành chức năng làm công tác văn hóa trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cần có giải pháp phục dựng, hình thành các lớp dạy hát điệu lượn Slương để điệu hát cổ truyền này được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống ngày nay.

Anh Nông Văn Cấp, 44 tuổi, ở xã Đức Xuân, huyện Thạch An cho biết, anh là người yêu các làn điệu dân ca dân tộc Tày như hát Then, hát Phong slư, lượn Slương… Biết lượn Slương từ lúc 18 tuổi, theo anh Cấp, lượn Slương có giai điệu ngọt ngào, yêu thương, sâu lắng. Ngày trước làng bản nào có đám đến lượn thì chứng tỏ làng bản đó giàu có, trù phú và mến khách. Lượn Slương được hát vào ban đêm trong không gian nhà sàn, bên bếp lửa. Ngày nay, một số điệu lượn Slương đã được biểu diễn ở đám cưới, trong các buổi sinh hoạt văn nghệ của thôn, bản. Trước thực trạng điệu lượn này có thể mất đi, anh Cấp tập trung sưu tầm và ghi chép các bài lượn của các cụ trước đây. Cùng với đó, anh đang cố gắng truyền dạy cho một số bạn trẻ yêu các làn điệu dân ca dân tộc Tày để thế hệ sau này phát huy được những giá trị của lượn Slương…

Bàn về giải pháp bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca dân tộc Tày, ông Vũ Tuấn Nghĩa, Phó Trưởng phòng Văn hóa Thể thao huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng cho biết, hiện nay trên địa bàn huyện đang có một số lớp giảng dạy một số làn điệu dân ca dân tộc Tày, Nùng. Các lớp dạy dân ca này bước đầu phát huy hiệu quả, lôi cuốn được một số bạn trẻ tham gia.

Ngành Văn hóa huyện Thạch An cũng xác định, thời gian tới, huyện sẽ đưa dân ca Tày vào giảng dạy trong học đường một cách hệ thống, bài bản, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, được tiếp cận với văn hóa truyền thống, văn hóa dân gian, dân ca các dân tộc. Đây là hành động mang tính chiến lược, đúng đắn, thiết thực nhằm không ngừng bảo tồn và phát huy, phát triển dân ca các dân tộc trong huyện… Cùng với đó, huyện kết hợp với các ngành chức năng phục dựng lại các điệu dân ca đang có nguy cơ mai một và mất hẳn.

Chu Hiệu

(TTXVN)
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

'Tết chiến sĩ Điện Biên - Xuân 1954': Khi ký ức lịch sử sống dậy giữa mùa Xuân hôm nay

'Tết chiến sĩ Điện Biên - Xuân 1954': Khi ký ức lịch sử sống dậy giữa mùa Xuân hôm nay

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), không gian “Tết chiến sĩ Điện Biên - Xuân 1954” được tái hiện sống động, đưa người dân, du khách trở về thời khắc lịch sử cách đây hơn bảy thập kỷ, khi quân và dân ta đón Tết giữa núi rừng Tây Bắc trong điều kiện vô cùng gian khổ nhưng tràn đầy niềm tin tất thắng.

Lễ hội Hoa Ban Điện Biên hứa hẹn nhiều điểm nhấn mới

Lễ hội Hoa Ban Điện Biên hứa hẹn nhiều điểm nhấn mới

Lễ hội Hoa Ban năm 2026 sẽ được tỉnh Điện Biên tổ chức từ ngày 20 - 26/3 với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, quy mô lớn, diễn ra trên địa bàn toàn tỉnh. Lễ hội là sự kiện văn hóa - du lịch tiêu biểu, góp phần tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc và quảng bá hình ảnh Điện Biên trong giai đoạn phát triển mới.

Tạo sức lan tỏa niềm tin, niềm tự hào về Đảng

Tạo sức lan tỏa niềm tin, niềm tự hào về Đảng

Chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, từ ngày 10 - 30/1, các đội chiếu phim lưu động thuộc Trung tâm Văn hóa - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức đợt chiếu phim Việt Nam phục vụ đông đảo người dân trên địa bàn tỉnh.

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

“Tà Số - Mùa Xuân về” là chủ đề Chương trình Tết Mông năm 2026 do UBND phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Chương trình không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong dịp Tết cổ truyền của người Mông, mà còn là dịp để du khách khám phá nét đẹp nguyên sơ của Tà Số.

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Làng nghề nón lá Gò Găng tại phường An Nhơn Bắc là một minh chứng điển hình cho sự bảo tồn và phát triển nghề truyền thống tại Gia Lai. Trải qua hàng trăm năm với nhiều thăng trầm, làng nghề không những không bị mai một mà ngày một phát triển, đã và đang tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương.

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Thái Nguyên không chỉ được biết đến là thủ phủ của trà, mà còn là nơi lưu giữ những kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của các dân tộc thiểu số. Tại xã miền núi Phong Quang, người Dao Tiền vẫn đang gìn giữ những nghi lễ tâm linh độc đáo, được xem là "tấm giấy thông hành" để mỗi cá nhân được cộng đồng và tổ tiên công nhận: Lễ cấp sắc và lễ cắt khẩu đường âm.

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

An Giang đang đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số trong văn hóa và bảo tàng để giúp người dân, du khách tiếp cận dễ dàng hơn với các hiện vật, tư liệu. Ban Quản lý di tích văn hoá Óc Eo tỉnh An Giang cũng nhanh chóng xây dựng kế hoạch, triển khai nhiều giải pháp để chuyển đổi số toàn diện hoạt động của Nhà trưng bày Văn hoá Óc Eo và các điểm di tích trọng điểm của Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê.

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Sáng 10/1, tại đảo hoa anh đào ở bản Kéo, UBND xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên, đã tổ chức khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng năm 2026, với chủ đề “Mường Phăng vào xuân - Hoa anh đào khoe sắc”. Với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, lễ hội đã thu hút hàng nghìn du khách nô nức đến dự và trải nghiệm.

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nằm ngay bên Quốc lộ 1A, tại xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm là một không gian văn hóa đặc thù, nơi lưu giữ, bảo tồn và giới thiệu những giá trị tiêu biểu của cộng đồng người Chăm. Với hệ thống hiện vật phong phú, không gian trưng bày khoa học cùng nhiều hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa, Trung tâm đang từng bước trở thành điểm đến văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Cồng chiêng ngày nay không chỉ ngân vang trong các lễ hội, mà đang hiện diện ngày càng rõ nét trong đời sống đương đại. Từ buôn làng đến không gian cộng đồng, từ sinh hoạt văn hóa truyền thống đến các mô hình du lịch trải nghiệm, thế hệ trẻ đang trở thành lực lượng nòng cốt tiếp nối mạch nguồn di sản, gìn giữ và lan tỏa giá trị cồng chiêng Tây Nguyên.

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

An Giang là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ nay đến hết tháng 1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu tới công chúng các hoạt động đón Xuân, nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Dù đã cao tuổi, bà Ma Ly (71 tuổi, xã Quảng Lập, Lâm Đồng) vẫn miệt mài duy trì nghề làm gốm truyền thống của dân tộc Churu. Không chỉ cung cấp sản phẩm cho khách hàng, bà Ma Ly còn đón du khách trải nghiệm, truyền dạy nghề gốm truyền thống cho thế hệ trẻ trong và ngoài tỉnh.

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Ngày 1/1, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên phối hợp với Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) tổ chức chương trình đón du khách và chuyến bay đầu tiên đến tỉnh Điện Biên năm 2026 tại Cảng Hàng không Điện Biên.

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Làng Đông Môn, phường Hòa Bình là cái nôi của ca trù (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca quán…) khu vực phía Bắc. Trải qua những thăng trầm, ca trù Đông Môn vẫn là mạch nguồn sâu lắng, nuôi dưỡng, trao truyền qua bao thế hệ và trở thành "nhịp phách, nhịp đàn" trong dòng chảy văn hóa của thành phố và đất nước.

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Ngày 28/12/2025, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn lần thứ I, năm 2025, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa truyền thống, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Sam Mứn; đồng thời tạo không gian giao lưu, gặp gỡ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Trong không khí hân hoan của đồng bào dân tộc Chứt đón Tết Chăm Cha Bới (Tết mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và cầu mùa màng bội thu của đồng bào dân tộc Chứt), ngày 28/12, tại bản Rào Tre (xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh), Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức “Ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số” năm 2025.

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Trong tiến trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, việc nghiên cứu, xây dựng và đưa vào sử dụng trang phục sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào Chứt, tỉnh Quảng Trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ lấp đầy “khoảng trống” văn hóa suốt nhiều năm, những bộ áo quần truyền thống được nghiên cứu công phu và trao cho cộng đồng còn tạo nền tảng để các giá trị văn hóa Chứt được gìn giữ, lan tỏa, tiếp nối bền vững trong đời sống đương đại.

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Việc tổ chức các lớp truyền khẩu tiếng Mảng không chỉ giúp gìn giữ ngôn ngữ, mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và thêm tự hào về nguồn cội của mình.

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

“Đồi thông hai mộ” từ lâu không chỉ là một truyện thơ mà còn là một địa danh nổi tiếng của vùng Mường Động tại xóm Đằng Long, xã Nật Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là miền ký ức văn hóa sâu thẳm của người Mường cổ, lan tỏa không gian cư trú cổ truyền trong không gian sáp nhập mới từ Hòa Bình đến Phú Thọ - nơi những câu chuyện tình, tín ngưỡng và cảnh quan hòa quyện thành nguồn lực du lịch văn hóa đặc sắc.