Bảo tồn và phát huy điệu lượn Slương của người Tày ở Cao Bằng

Bảo tồn và phát huy điệu lượn Slương của người Tày ở Cao Bằng

Lượn Slương là một làn điệu dân ca độc đáo, đặc sắc của người Tày vùng Việt Bắc nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng. Hiện nay do tác động của cơ chế thị trường, thế hệ trẻ người dân tộc Tày ít người quan tâm đến thể loại dân ca cổ truyền này, khiến cho điệu lượn Slương có nguy cơ mai một và mất hẳn. Vì vậy, các ngành chức năng tỉnh Cao Bằng cần có những giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn của thể loại dân ca độc đáo này.

Theo Thạc sĩ Hoàng Thị Nhuận, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Cao Bằng, qua những nghiên cứu về Văn hóa học, Dân tộc học, Văn học dân gian và những văn tự Nôm của người Tày thì lượn Slương khởi nguồn từ huyện Thạch An (tỉnh Cao Bằng) rồi lan truyền đến các vùng lân cận thông qua giao lưu văn hóa tại các lễ hội Xuân hoặc các cuộc hẹn hò giao duyên của thanh niên làng, bản. Lượn Slương được truyền từ đời này qua đời khác theo phương thức truyền khẩu. Do có lịch sử lâu dài nên lượn Slương được coi là pho di sản văn hóa độc đáo quý báu của người Tày.

Thạc sĩ Hoàng Thị Nhuận cho biết thêm, giá trị của lượn Slương nằm ở sự độc đáo về nội dung và nghệ thuật của điệu lượn này. Lượn Slương gồm ba phần là lượn đi đường, lượn sử và lượn chúc mừng. Lượn Slương (nghĩa là lượn Thương) là bộc bạch niềm thương nhớ. Niềm nhớ thương của một tình yêu đã nặng sâu nặng. Cách diễn đạt của lượn Slương mang đậm sắc màu độc thoại hơn là những dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ đối thoại…

Lượn Slương phát triển mạnh nhất vào giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Sau đó, cả nước bước vào các cuộc kháng chiến chống giặc ngoài xâm, lượn Slương cũng lắng xuống. Tuy nhiên, lượn Slương vẫn sống âm thầm trong lòng những cụ già yêu thích điệu lượn đặc trưng của dân tộc và mong muốn được phục hồi điệu hát cổ truyền này.

Bà Đinh Thị Đà, 77 tuổi, ở xã Đức Xuân, là một trong những người lớn tuổi nhất của huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, còn yêu và hát điệu lượn Slương. Bà Đà cho biết, trước đây khi còn trẻ bà đã được các cụ bà trong bản dạy hát lượn Slương. Bà lớn lên cùng điệu lượn ngọt ngào, yêu thương đó. Lượn Slương cứ ngấm vào con người cho đến khi bà đi học, đi làm. Cuộc sống tất bật, hai cuộc kháng chiến trường kì cũng làm bà ít hát điệu hát cổ truyền của dân tộc mình.

Đến năm 1985, khi nghỉ hưu, bà Đà bắt đầu sưu tầm và ghi chép lại các bài lượn. Năm 2013, khi Nhà nước có chính sách khôi phục văn hóa các dân tộc thì bà Đà cùng một số người yêu điệu lượn thành lập các nhóm hát lượn Slương xã Đức Xuân, huyện Thạch An. Nhóm hát của bà Đà gồm 8 thành viên, trong đó có hai người 80 tuổi là những người yêu thích văn hóa dân gian, cùng nhau sưu tầm và hát lượn. Nhóm hát lượn của bà Đà thường xuyên đi biểu diễn hát lượn trong các buổi giao lưu ở các thôn, xã trên địa bàn huyện, tham gia các cuộc thi hát dân ca của tỉnh Cao Bằng.

Theo bà Đà, qua những buổi biểu diễn, bà nhận thấy nhiều người Tày vẫn còn yêu thích điệu lượn Slương bởi nội dung những bài lượn Slương là ca ngợi tình cảm giữa con người với con người; giáo dục, khuyên bảo con người sống tốt với nhau... Mặc dù vậy, bà Đà cũng lo lắng, khi lớp người trẻ ở Đức Xuân không ai hát được điệu lượn Slương. Nếu không có người hát được thì sự cảm nhận về điệu hát ngọt ngào, đầy tình yêu thương này không còn... Vì vậy, bà Đà cũng như những người còn biết hát điệu lượn Slương mong muốn các ngành chức năng làm công tác văn hóa trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cần có giải pháp phục dựng, hình thành các lớp dạy hát điệu lượn Slương để điệu hát cổ truyền này được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống ngày nay.

Anh Nông Văn Cấp, 44 tuổi, ở xã Đức Xuân, huyện Thạch An cho biết, anh là người yêu các làn điệu dân ca dân tộc Tày như hát Then, hát Phong slư, lượn Slương… Biết lượn Slương từ lúc 18 tuổi, theo anh Cấp, lượn Slương có giai điệu ngọt ngào, yêu thương, sâu lắng. Ngày trước làng bản nào có đám đến lượn thì chứng tỏ làng bản đó giàu có, trù phú và mến khách. Lượn Slương được hát vào ban đêm trong không gian nhà sàn, bên bếp lửa. Ngày nay, một số điệu lượn Slương đã được biểu diễn ở đám cưới, trong các buổi sinh hoạt văn nghệ của thôn, bản. Trước thực trạng điệu lượn này có thể mất đi, anh Cấp tập trung sưu tầm và ghi chép các bài lượn của các cụ trước đây. Cùng với đó, anh đang cố gắng truyền dạy cho một số bạn trẻ yêu các làn điệu dân ca dân tộc Tày để thế hệ sau này phát huy được những giá trị của lượn Slương…

Bàn về giải pháp bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca dân tộc Tày, ông Vũ Tuấn Nghĩa, Phó Trưởng phòng Văn hóa Thể thao huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng cho biết, hiện nay trên địa bàn huyện đang có một số lớp giảng dạy một số làn điệu dân ca dân tộc Tày, Nùng. Các lớp dạy dân ca này bước đầu phát huy hiệu quả, lôi cuốn được một số bạn trẻ tham gia.

Ngành Văn hóa huyện Thạch An cũng xác định, thời gian tới, huyện sẽ đưa dân ca Tày vào giảng dạy trong học đường một cách hệ thống, bài bản, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, được tiếp cận với văn hóa truyền thống, văn hóa dân gian, dân ca các dân tộc. Đây là hành động mang tính chiến lược, đúng đắn, thiết thực nhằm không ngừng bảo tồn và phát huy, phát triển dân ca các dân tộc trong huyện… Cùng với đó, huyện kết hợp với các ngành chức năng phục dựng lại các điệu dân ca đang có nguy cơ mai một và mất hẳn.

Chu Hiệu

(TTXVN)
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

'Đảo hoa' khoe sắc giữa thiên nhiên di sản

'Đảo hoa' khoe sắc giữa thiên nhiên di sản

Giữa khung cảnh hùng vĩ của núi non và sông nước của Khu du lịch sinh thái Thung Nham, phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, “Đảo hoa bốn mùa” như một bức tranh rực rỡ sắc màu, nơi các loài hoa khoe sắc, tỏa hương giữa thiên nhiên di sản. Không chỉ tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên, “đảo hoa” còn góp phần lan tỏa tinh thần du lịch có trách nhiệm, nơi con người vừa tận hưởng cảnh quan, vừa chung tay gìn giữ và phát triển bền vững các giá trị di sản.

Đặc sắc lễ hội rước Mẫu ở Tuyên Quang

Đặc sắc lễ hội rước Mẫu ở Tuyên Quang

Sáng 30/3, tại khu di tích đền Hạ, UBND phường Minh Xuân (Tuyên Quang) tổ chức khai mạc lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La năm 2026, thu hút hàng vạn du khách trong và ngoài tỉnh tham dự.

Để tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn

Để tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn

Trong bối cảnh thời đại công nghệ số, giới trẻ ít mặn mà với các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, tại Quảng Ngãi, một số trường học đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong việc đưa văn hóa cồng chiêng, múa xoang vào trường học, giúp tất cả học sinh không chỉ các em đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn về những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.

Triển lãm ảnh nghệ thuật 'Sắc màu các dân tộc Việt Nam'

Triển lãm ảnh nghệ thuật 'Sắc màu các dân tộc Việt Nam'

Ngày 26/3, tại Quảng trường 10/3 (phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk tổ chức khai mạc Triển lãm ảnh nghệ thuật “Sắc màu các dân tộc Việt Nam”.

Phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống Lễ hội Phá Bàu

Phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống Lễ hội Phá Bàu

Ngày 22/3, tại Bàu K Poch (ấp Sóc Lớn, xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai) diễn Lễ hội Dua Tpeng hay còn gọi là lễ hội Phá Bàu. Sự kiện thu hút đông đảo người dân địa phương, các vùng lân cận cùng tạo nên không khí lễ hội sôi nổi và thắm tình đoàn kết.

Sôi động Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến

Sôi động Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến

Trong khuôn khổ Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến (Sơn La) năm 2026, sáng 21/3/2026 diễn ra các hoạt động trưng bày gian hàng giới thiệu sản phẩm nông sản đặc trưng; trình diễn các tiết mục văn hóa, văn nghệ sôi nổi thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã và du khách tham dự.

Nét riêng độc đáo của đua ngựa vùng cao thu hút du khách

Nét riêng độc đáo của đua ngựa vùng cao thu hút du khách

Sau những năm gián đoạn do COVID-19, Giải đua ngựa xã Phù Lưu (tỉnh Tuyên Quang) đã chính thức được tổ chức trở lại trong hai ngày 19 - 20/3, mang theo không khí rộn ràng của lễ hội truyền thống và thu hút hàng vạn người dân, du khách thập phương.

Tặng hơn 1.000 bộ áo dài cho phụ nữ vùng biên

Tặng hơn 1.000 bộ áo dài cho phụ nữ vùng biên

Với tinh thần sẻ chia, Câu lạc bộ Di sản áo dài Việt Nam - Bình Thuận (tỉnh Lâm Đồng) đã tổ chức vận động, quyên góp chương trình trao tặng “Áo dài yêu thương”, góp phần mang đến niềm vui cho phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Tạo sân chơi thể thao lành mạnh, bổ ích cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Tạo sân chơi thể thao lành mạnh, bổ ích cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Sáng 17/3, tại sân vận động Binh đoàn 15 (phường Thống Nhất), Ban Truyền hình Tiếng dân tộc - Đài Truyền hình Việt Nam (VTV5) phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai và Binh đoàn 15 tổ chức khai mạc Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai mở rộng năm 2026 - Cúp VTV5.

Đặc sắc chương trình nghệ thuật 'Đắk Lắk - Chung một niềm tin'

Đặc sắc chương trình nghệ thuật 'Đắk Lắk - Chung một niềm tin'

Chào mừng thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, tối 16/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức chương trình nghệ thuật “Đắk Lắk - Chung một niềm tin”. Chương trình diễn ra tại hai địa điểm: Trung tâm Văn hóa - Du lịch tỉnh, phường Buôn Ma Thuột (khu vực phía Tây tỉnh) và Quảng trường Phú Yên, phường Tuy Hòa (khu vực phía Đông tỉnh).

Võ sáo – nét văn hóa đặc sắc của vùng đất khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Ninh)

Võ sáo – nét văn hóa đặc sắc của vùng đất khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Ninh)

Võ sáo còn được ví là “Thiết địch thần phong”, gắn với bài sáo “Bóng trăng Phồn Xương” huyền thoại – là nét văn hóa đặc sắc của vùng đất Yên Thế. Cây sáo sắt xưa vừa là tín lệnh, vũ khí của nghĩa quân, vừa là nhạc cụ thể hiện nghệ thuật, biểu trưng cho tinh thần thượng võ và khí phách quật cường của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Bắc Ninh đang nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị độc đáo của bộ môn võ thuật – nghệ thuật này, hướng tới xây dựng thành di sản văn hóa.

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức Chương trình giao lưu và Hội hát then, sli, lượn dân tộc Nùng, Tày... tỉnh Lạng Sơn. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc xứ Lạng gắn với phát triển du lịch, nâng cao đời sống nhân dân...

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Lễ trao giải cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk và Chương trình nghệ thuật chủ đề “Buôn Ma Thuột - Khúc tráng ca tự hào” nhân kỷ niệm 51 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975 - 10/3/2026), chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Ngày 7/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng tổ chức Liên hoan pháo đất thành phố lần thứ nhất năm 2026. Liên hoan quy tụ trên 200 pháo thủ đến từ 7 xã gồm: Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thịnh, Tân Kỳ, Tân An và Trường Tân - những địa phương có truyền thống chơi pháo đất lâu đời của Hải Phòng.

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Tối 4/3 (tức ngày 16 tháng Giêng âm lịch), tại bản Cà Roòng (xã Thượng Trạch, Quảng Trị) đã rộn ràng diễn ra lễ hội đập trống của người Ma Coong nhằm cầu mưa thuận gió hòa, bản làng ấm no, lễ hội độc đáo này đã thu hút đông đảo bà con địa phương và du khách gần xa.

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Trong 2 ngày 26 - 27/2, tại Nhà Triển lãm Nhạc cụ truyền thống, Tổ dân phố N’Jriêng, phường Đông Gia Nghĩa (tỉnh Lâm Đồng), UBND phường Đông Gia Nghĩa phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức Hội Xuân Liêng Nung 2026 với chủ đề “Âm vang đại ngàn”. Đây là hội xuân truyền thống được tổ chức hằng năm của các dân tộc thiểu số bản địa phía Tây tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Đắk Nông cũ).

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Ngày 27/2, tại Di tích lịch sử quốc gia đình Lạc Giao (tỉnh Đắk Lắk), Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc Ngày Thơ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk lần thứ 47.