Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận (Bài 1)

Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận (Bài 1)

“Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” của Việt Nam được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp ngày 29/11/2022. Đây là tin vui và đồng thời cũng là động lực để đồng bào Chăm, tỉnh Ninh Thuận triển khai các giải pháp bảo tồn và phát triển nghề gốm tương xứng với sự ghi nhận đó. Phóng viên TTXVN phản ánh nội dung này qua hai bài viết với chủ đề “Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận”.

Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận (Bài 1) ảnh 1Các sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc đa dạng về mẫu mã và chủng loại. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Bài 1: Tinh hoa nghề gốm

Gốm Chăm hiện nay còn hiện diện chủ yếu ở hai tỉnh Ninh ThuậnBình Thuận. Trong đó, làng gốm Bàu Trúc, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận được xem như một bảo tàng gốm truyền thống của người Chăm các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Độc đáo nghệ thuật làm gốm

Những ngày qua, khi thông tin “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” chính thức được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, chính quyền và người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, đặc biệt là người Chăm ở làng gốm Bàu Trúc rất vui mừng, tự hào và tràn đầy hy vọng.

Vừa bỏm bẻm nhai trầu, cụ Trượng Thị Gạch, 78 tuổi, một trong những nghệ nhân lớn tuổi nhất ở làng gốm Bàu Trúc phấn khởi cho biết: “Tôi bắt đầu được mẹ truyền dạy làm gốm từ năm 15 tuổi, đến nay vẫn còn làm gốm. Cả cuộc đời gắn bó với nghề gốm với biết bao thăng trầm, cuối cùng tôi cũng được chứng kiến cái nghề truyền thống của dân tộc mình được công nhận là di sản thế giới. Chúng tôi mong muốn nghề làm gốm tiếp tục được quan tâm bảo tồn và phát triển hơn nữa”.

Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận (Bài 1) ảnh 2Cụ Trượng Thị Gạch (78 tuổi) là nghệ nhân người Chăm tham gia biểu diễn nghệ thuật làm gốm. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Những người lớn tuổi phấn khởi và hy vọng nghề truyền thống sẽ được kế tục, còn lớp trẻ thì nhắn nhủ nhau phải góp sức để phát huy hơn nữa tinh hoa nghề gốm truyền thống. Chị Đàng Thị Tuyết Hằng có hơn 30 năm gắn bó với nghề gốm chia sẻ, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh, bản thân chị và các thợ làm gốm ở làng Bàu Trúc rất mừng vì nghề gốm được thế giới quan tâm, công nhận. Các chị hy vọng sẽ tiếp tục nỗ lực giúp gốm Chăm khẳng định vị thế, thương hiệu trong, ngoài nước.


Làng gốm Bàu Trúc có tuổi đời hàng trăm năm, được xem là làng gốm cổ xưa nhất ở Đông Nam Á đến nay còn bảo lưu khá tốt kỹ thuật làm gốm hoàn toàn thủ công. Người Chăm làm gốm với kỹ thuật và quy trình thủ công truyền thống được các gia đình duy trì qua nhiều đời theo chế độ mẫu hệ “mẹ truyền – con nối”. Nơi đây được xem như một bảo tàng gốm truyền thống của người Chăm sinh sống tại Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Điều làm nên sự khác biệt của nghệ thuật làm gốm Chăm ở làng Bàu Trúc chính là phong cách làm gốm không sử dụng đến thiết bị bàn xoay. Người thợ vừa đi giật lùi vòng quanh chiếc trục đặt khối đất sét, vừa đều tay xoa, vuốt để tạo hình sản phẩm. Đến khi thành hình hài thô, người thợ chà láng sản phẩm bằng cách quấn tấm vải nhỏ được thấm nước vào bàn tay, từng ngón tay xoa đều nhẹ nhàng hay miết thật mạnh để tạo cạnh, tạo hình răng cưa, khắc vạch, sóng nước, hoa văn độc đáo lên bề mặt của sản phẩm.

Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận (Bài 1) ảnh 3Người thợ không sử dụng bàn xoay mà dùng bàn chân xoay quanh một chiếc trụ cố định rồi nặn, nắn, miết để biến cục đất sét thành sản phẩm gốm theo ý muốn. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Sản phẩm đã được tạo hình xong, để 2-3 ngày phơi cho khô mặt. Gốm không tráng men và được chất đống nung ngoài trời bằng củi và rơm trong 7-8 giờ ở nhiệt độ khoảng 800 độ C. Cách nung lộ thiên này nhằm tạo không gian cho sản phẩm, lửa nung kết hợp với gió thổi tạo nên các vết loang, các màu đặc trưng mang dấu ấn độc đáo của gốm Chăm như vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, nâu... Với một số dòng sản phẩm mỹ nghệ, nghệ nhân còn sử dụng nhiều cách tạo màu tự nhiên như rưới, phun nước hạt điều, nước cây thị. Trong khi loại tượng nghệ thuật lại có thể được om trấu hoặc củi để tạo những vết loang đen do khói lửa.

Do được làm thủ công hoàn toàn, từng sản phẩm một, nên gốm Chăm được ngợi ca như một sản phẩm “ấm bàn tay con người” nhất với đặc trưng riêng, mang đậm nét văn hóa Chăm. Điều này được thể hiện ở chỗ dù có cùng chủng loại sản phẩm nhưng không có chiếc nào giống y hệt chiếc nào như sản phẩm đúc bằng khuôn ở các làng nghề gốm khác. Ngoài ra, giữa các sản phẩm gốm Chăm luôn có sự khác biệt nhất định, phụ thuộc vào sức khỏe, cảm xúc, tâm trạng và đôi bàn tay tài hoa của người thợ với dấu ấn để lại trong từng sản phẩm luôn hiện hữu.

Gìn giữ di sản gốm Chăm


Gốm của người Chăm chủ yếu là đồ gia dụng, đồ dùng cúng lễ. Nhiều nghiên cứu đều có chung nhận định rằng các sản phẩm gốm có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, sinh hoạt hằng ngày của mỗi gia đình và trong văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm. Ở làng Bàu Trúc, tại các cơ sở sản xuất gốm dễ dàng bắt gặp dáng hình vũ nữ Apsara đậm chất nghệ thuật, thần Shiva qua tượng hoặc phù điêu, các kiểu sinh thực khí linga-yoni, cặp bình đực-cái, điệu múa các cô gái Chăm… cùng những tác phẩm mô phỏng đời sống văn hóa tâm linh khác.

Bảo tồn và phát triển nghề làm gốm của người Chăm tỉnh Ninh Thuận (Bài 1) ảnh 4Lớp trẻ người Chăm quan tâm học nghề gốm truyền thống. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Ông Phú Hữu Minh Thuần, Giám đốc Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc cho biết, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, làng gốm Bàu Trúc vẫn giữ nguyên những nét truyền thống trong phong cách làm gốm giữa dòng chảy thời gian. Những nghệ nhân làm gốm vẫn giữ được sự tinh túy và vẻ đẹp hoang sơ của gốm cổ cách đây hàng trăm năm. Giờ đây, “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, là điều hết sức đáng mừng và tự hào. Gốm Chăm từ nay sẽ được thế giới biết đến nhiều hơn.

Nghề làm gốm ở Bàu Trúc dành riêng cho phụ nữ; đàn ông chỉ đi hái củi, đào đất gánh rơm phụ giúp lúc nung gốm. Những năm gần đây, thị trường ưa chuộng những sản phẩm gốm có kích thước to lớn, nặng hàng chục kg, thậm chí nặng cả tấn nên trong làng Bàu Trúc ngày càng có nhiều nam thanh niên, đàn ông trung niên học nghề và làm nhiều sản phẩm. Cả làng hiện có trên 400 hộ gắn bó với nghề làm gốm, chiếm khoảng 70% số hộ đồng bào Chăm sinh sống ở địa phương, đã có 1 hợp tác xã và 12 cơ sở sản xuất, kinh doanh gốm.

Hiện nay, gốm Chăm Bàu Trúc đã có chỗ đứng trên thị trường với nhiều mặt hàng được sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày của đồng bào Chăm, cũng như nhiều dân tộc khác ở khắp các địa phương trên cả nước như: Lu, chum, vại, lò, ấm, nồi… Trong nền kinh tế thị trường, các nghệ nhân làng Bàu Trúc đã nghiên cứu nhu cầu thực tế để làm nên nhiều sản phẩm gốm mỹ nghệ phục vụ thương mại, du lịch, với hàng chục ngàn sản phẩm gốm các loại, giúp đời sống của người làm gốm được cải thiện nhiều hơn.

Những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước và sự đoàn kết, nỗ lực vươn lên của người dân, làng Bàu Trúc có nhiều thay đổi. Những con đường dẫn vào làng được trải nhựa bê tông, những căn nhà khang trang ngày một nhiều hơn, những cơ sở, hợp tác xã sản xuất gốm luôn sẵn sàng đón khách tham quan. Có dịp đến đây, du khách sẽ được chứng kiến tận mắt cách các nghệ nhân làng gốm làm ra những tuyệt tác, cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc trong từng tác phẩm, để thêm trân trọng những giá trị tinh hoa nghề truyền thống được người Chăm ra sức giữ gìn qua không gian và thời gian.(Xem tiếp Bài 2: Đưa thương hiệu gốm Chăm vươn xa)

Nguyễn Thành

(TTXVN)
Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Trải qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Gia Lai - một tỉnh miền núi, biên giới thuộc khu vực Tây Nguyên đã có những bước chuyển mình rõ nét. Những đổi thay ấy được cảm nhận sinh động qua thực tiễn sản xuất, đời sống của người dân và góc nhìn của những người gắn bó, đồng hành cùng địa phương suốt chặng đường phát triển.

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Sở Dân tộc và Tôn giáo cần kết hợp ứng dụng công nghệ số với trao đổi trực tiếp, giữ liên hệ gần gũi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc, tôn giáo. Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Khởi đã chỉ đạo nội dung trên tại Hội nghị Tổng kết công tác dân tộc và tôn giáo năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 diễn ra sáng 15/1.

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Với quan niệm, Tết là dịp để gia đình, dòng tộc sum họp sau 1 năm lao động vất vả, cũng là dịp để báo với tổ tiên về những thành quả trong cả năm, cầu mong những điều tốt sẽ đến trong năm mới, từ tháng 11 - 12 Âm lịch hàng năm, khắp các bản làng người Dao xứ Thanh lại cùng nhau ăn "Tết năm cùng".

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Giữa nhịp sống hối hả của kỷ nguyên công nghệ, tại Quảng Ngãi, những người thợ dệt vẫn chọn cách “đón Tết” bằng nhịp điệu thong dong của khung cửi. Với họ, mỗi tấm chiếu, mỗi dải thổ cẩm không chỉ là món hàng, mà là “tờ lịch” ghi dấu sự chuyển mình của mùa Xuân.

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Nằm giữa vùng sơn cước, bản Bắc Hoa, xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đang từng bước chuyển mình từ một bản làng thuần nông trở thành điểm đến du lịch cộng đồng giàu bản sắc. Với hệ thống nhà cổ, đời sống văn hóa truyền thống của đồng bào Nùng còn được gìn giữ khá nguyên vẹn, cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, Bắc Hoa được kỳ vọng sẽ trở thành điểm nhấn mới trong phát triển du lịch văn hóa, sinh thái của tỉnh.

Lễ mừng cơm mới của đồng bào dân tộc Thái ở Phú Thọ

Lễ mừng cơm mới của đồng bào dân tộc Thái ở Phú Thọ

Giữa nhịp sống hiện đại, ở những bản làng người Thái vùng Mai Châu, lễ cơm mới vẫn được gìn giữ như một nét văn hóa thiêng liêng gắn với vòng quay mùa vụ. Mỗi khi lúa chín, thóc đầy bồ, bà con lại háo hức chuẩn bị mâm lễ để tạ ơn trời đất, tổ tiên đã phù hộ cho một vụ mùa bội thu. Qua từng nghi thức, lễ cơm mới không chỉ là ngày mừng mùa mà còn là dịp để các thế hệ người Thái tiếp nối, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Gắn bó mật thiết với nương rẫy và núi rừng Tây Bắc, đồng bào dân tộc Khơ Mú từ bao đời nay vẫn gìn giữ nghi thức thu thóc cầu mùa bội thu như một sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng quan trọng. Không chỉ thể hiện niềm tin vạn vật hữu linh, Lễ cầu mùa còn là dịp để cộng đồng bày tỏ lòng biết ơn trời đất, tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng no ấm và đoàn kết.

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Nép mình nơi ngã ba sông ở đầu nguồn châu thổ Cửu Long, nơi dòng nước mát lành của sông Hậu và sông Châu Đốc cùng in bóng những thánh đường Hồi giáo cổ kính hòa quyện tiếng đọc kinh Quan âm vang như nhịp đập của xóm người Chăm, nghề dệt thổ cẩm truyền thống theo đạo Hồi giáo Islam ở An Giang đã và đang được hồi sinh mạnh mẽ dưới đôi tay của những người phụ nữ xóm Chăm ở ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc bản địa, gắn với phát triển du lịch cộng đồng, Lễ cầu hôn (Lễ ăn hỏi) truyền thống của người Jrai vừa được phục dựng tại làng Ơp, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai. Lễ phục dựng không chỉ tái hiện sinh động một nghi lễ tiêu biểu trong đời sống hôn nhân của người Jrai theo chế độ mẫu hệ, mà còn góp phần giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân bản địa trên cao nguyên Gia Lai đến với du khách.

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Ngày 1/1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), diễn ra hoạt động tái hiện Lễ cưới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đang hoạt động tại Làng. Lễ cưới không chỉ thể hiện tập quán truyền thống của các dân tộc vùng Trường Sơn Tây Nguyên: đồng bào dân tộc Xơ Đăng, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Ba Na, Tà Ôi, Cơ Tu khi trai, gái đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình mà còn là một ngày hội gắn kết cộng đồng trong buôn làng.

Mâm cơm cuối năm gắn kết cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa

Mâm cơm cuối năm gắn kết cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa

Chiều 28/12, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, cộng đồng các dân tộc đang sinh hoạt thường xuyên đã tổ chức giới thiệu mâm cơm sum họp ngày cuối năm. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện tháng 12 với chủ đề “Chào năm mới 2026”, góp phần làm rõ vai trò của ẩm thực truyền thống trong đời sống văn hóa xã hội của đồng bào các dân tộc.

Yên Lạc “giữ lửa” nghề chằm áo tơi truyền thống

Yên Lạc “giữ lửa” nghề chằm áo tơi truyền thống

Chiếc áo mộc mạc, được làm từ những tàu lá cọ khô, không chỉ là vật dụng che mưa nắng quen thuộc của người dân thôn Yên Lạc (xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) suốt hàng trăm năm, mà còn là biểu tượng của sự cần cù, khéo léo và nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc. Giữa nhịp sống hối hả, nghề chằm áo tơi truyền thống vẫn được người dân lặng lẽ “giữ lửa”, trao truyền qua bao thế hệ, bảo tồn một phần hồn quê hương trong từng sợi lá.

Bảo tồn không gian văn hóa của người Xơ Đăng

Bảo tồn không gian văn hóa của người Xơ Đăng

Trong hai ngày 11 và 12/12, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tổ chức bàn giao mô hình bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Xơ Đăng (nhóm Tơ Đ’ră) tại xã Ngọc Réo và dân tộc Xơ Đăng (nhóm Mơ Nâm) tại xã Kon Plông.

Sắc màu hội tụ và lan tỏa bản sắc 49 dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Sắc màu hội tụ và lan tỏa bản sắc 49 dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Chiều 12/12, tại Nhà truyền thống tổ dân phố N’Jriêng (phường Đông Gia Nghĩa), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng tổ chức lễ bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh lần thứ nhất, năm 2025 với chủ đề “Sắc màu hội tụ và lan tỏa”.

Độc đáo lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu

Độc đáo lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu

Trong không gian nhà sàn trầm ấm thoảng hương lúa mới, lễ cúng mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu, Phú Thọ từ nhiều đời nay vẫn được gìn giữ như một nghi lễ thiêng liêng. Lễ cúng mừng cơm mới là lời tri ân mùa màng, biểu tượng của văn hóa nông nghiệp lúa nước, là sợi dây gắn kết gia đình, dòng họ, cộng đồng người Thái trong hành trình lao động và gìn giữ bản sắc dân tộc.

Bảo tồn, gìn giữ giá trị Lễ mừng lúa mới của đồng bào Giẻ Triêng

Bảo tồn, gìn giữ giá trị Lễ mừng lúa mới của đồng bào Giẻ Triêng

Từ ngày 4 - 6/12/2025, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức truyền dạy và phục dựng Lễ mừng lúa mới của dân tộc Giẻ Triêng, nhằm mục tiêu bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa của nghi lễ đặc trưng này, trong bối cảnh có nguy cơ bị mai một theo thời gian.

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Người Ê Đê sinh sống tại huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên cũ) nay thuộc các xã: Sông Hinh, Đức Bình, Ea Ly, Ea Bá (tỉnh Đắk Lắk) hiện còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống bản địa đặc sắc, độc đáo. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, chính quyền địa phương đã nỗ lực phát huy những giá trị đó trở thành điểm nhấn trong dòng chảy văn hóa địa phương, tạo thêm nhiều việc làm mới tăng thu nhập cho người Ê Đê thông qua các đề án phát triển du lịch cộng đồng.

Âm vang trống đồng trong đời sống người Lô Lô

Âm vang trống đồng trong đời sống người Lô Lô

Khi ánh mặt trời đầu ngày vừa chạm lên những mái trình tường vàng nơi bản Lô Lô Chải, sương vẫn còn quấn quanh triền núi, tiếng trống đồng bỗng ngân lên - trầm, vang, dội vào vách đá rồi lan ra thung sâu như một luồng sinh khí đánh thức cả cao nguyên. Đấy không chỉ là âm thanh mở đầu của lễ hội, mà là nhịp đập của bao thế hệ người Lô Lô, là lời khẳng định rằng giữa đại ngàn đá xám gió ngàn, bản làng này vẫn giữ trọn linh hồn văn hóa tự ngàn xưa.

Khát vọng vươn lên của xã miền núi Phú Thọ

Khát vọng vươn lên của xã miền núi Phú Thọ

Xã Liên Sơn nằm trong nhóm 5 xã có quy mô lớn nhất tỉnh Phú Thọ, sở hữu địa hình đa dạng, nguồn tài nguyên phong phú và nền văn hóa bản địa giàu bản sắc của đồng bào Mường.

Sắc màu văn hoá của đồng bào Chăm

Sắc màu văn hoá của đồng bào Chăm

Không gian văn hóa đền tháp của đồng bào Chăm tỉnh Khánh Hòa là điểm nhấn đặc sắc nằm trong chuỗi các hoạt động của Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam” (18 - 24/11/2025) đang được giới thiệu tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội).

Sắc màu dân tộc thiểu số ở Bắc Ninh

Sắc màu dân tộc thiểu số ở Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh có trên 39 vạn người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (chiếm 11,02% dân số toàn tỉnh) với nhiều thành phần dân tộc, trong đó có 7 thành phần dân tộc thiểu số chủ yếu gồm: Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chí, Dao (chiếm 97,78% tổng số người dân tộc thiểu số). Mỗi dân tộc có trang phục, tập quán riêng tạo sự khác biệt và đa dạng văn hóa cho vùng đất này.