Từng là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu gắn liền với định kiến giới khắt khe, thay vì chấp nhận số phận, cô gái trẻ Sùng Thị Sơ đã lựa chọn con đường học vấn để tự giải cứu chính mình và trở thành người mang kiến thức pháp luật đến với các bản làng.
Dù được các các cấp ngành đẩy mạnh truyền thông, nhưng nhiều nơi tại miền núi phía Bắc vẫn còn tồn tại những quan niệm lạc hậu về vai trò của phụ nữ. Tại đây, con đường đến trường của các em gái còn khá chật vật. Cô gái người Mông Sùng Thị Sơ, sinh ra và lớn lên tại thôn Khe Ron, xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai, là một trường hợp như vậy. Hành trình đi tìm con chữ của Sơ cũng chính là hành trình nỗ lực phá bỏ những hủ tục lạc hậu, để vươn tới ánh sáng của tự do.
Vượt qua hủ tục để lựa chọn con chữ
Với Sùng Thị Sơ, ký ức tuổi thơ gắn liền với những bữa cơm độn sắn cùng đôi chân trần trên đất đá.
Là con thứ trong gia đình thuần nông có 5 chị em, ngay từ khi 6 tuổi, Sơ đã quen với việc vượt hàng chục cây số đường núi hằng ngày để lên rừng chăn lợn. Cái nghèo bủa vây khiến chị cả của Sơ phải nghỉ học sớm. Bản thân Sơ cũng từng đứng trước nguy cơ phải rời ghế nhà trường khi gia đình không đủ 70.000 đồng đóng học phí. Chính lời tâm sự từ cô giáo chủ nhiệm lớp 2 về một tương lai thoát nghèo đã trở thành đốm lửa sưởi ấm ý chí của cô bé vùng cao, thôi thúc Sơ thức khuya dậy sớm cùng trang sách.
Dù nỗ lực học tập và đỗ vào trường nội trú, cô gái người Mông Sùng Thị Sơ vẫn không thoát khỏi vòng vây của tục “kéo vợ” (bắt vợ) bị biến tướng. Lần đầu tiên xảy ra khi Sơ mới học lớp 8. Trong lúc đi chơi Tết với em gái, Sơ bị một người lạ "kéo" đi và chỉ thoát được nhờ sự níu kéo của em gái cùng sự can thiệp của mọi người xung quanh. Lần thứ hai diễn ra ngay trước ngày nhập học lớp 10, may mắn có thanh niên trong bản kịp thời ứng cứu. Sau trận xô xát khá căng thẳng với kẻ "bắt vợ", một người bạn của Sơ đã bị đâm trọng thương.
Và lần thứ ba, cô gái người Mông vẫn nhớ như in là vào thời điểm tháng 5 năm 2020, giữa lúc giãn cách vì dịch COVID-19. Khi đó, Sơ đang chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông. Lợi dụng lúc gia đình đi vắng, hai người đàn ông lạ mặt đã cưỡng chế đưa em lên xe máy, tịch thu điện thoại và kẹp chặt em ở giữa. Trên đường đi, Sơ từng định nhảy xuống xe, nhưng nỗi lo ngã xuống vách núi bị thương không thể đi thi đã giữ chân em lại, Sơ đành chờ đợi cơ hội để thoát thân trong sự sợ hãi.
Suốt hai đêm bị giam giữ tại nhà người lạ, Sùng Thị Sơ thức trắng để tự bảo vệ mình trước sự ép buộc và đánh đập của đối phương. Cơ hội đến khi mẹ của người "kéo vợ" sai con trai đi phun thuốc cho ruộng lúa. Sơ vờ xin đi cùng và mượn lại điện thoại với lý do kiểm tra lịch học, sau đó lén gọi điện cầu cứu gia đình. Với người dân tộc Mông, con gái bị "kéo vợ" là phải theo nhà trai. Tuy nhiên, thấy con gái tha thiết xin được đi học, bố của Sơ đã thuyết phục đưa con trở lại nhà, vờ để bàn chuyện cưới xin. Về nhà an toàn, Sơ cương quyết không trở lại nhà kẻ đã "kéo vợ" mình, dù sau đó liên tục bị dọa dẫm.
Sự kiên quyết của bố mẹ chính là điểm tựa lớn nhất giúp Sơ có được tự do. Dù sau đó, gia đình em đã phải chịu đựng sự dè bỉu, dị nghị từ dân làng vì “kéo vợ” tới ba lần mà vẫn chưa chịu lấy chồng. Không dám bước chân ra khỏi nhà, nhiều đêm Sơ thức trắng, vì thương bố mẹ, phần vì thương chính mình. Đã có thời điểm cô gái Mông muốn tìm đến lá ngón để kết thúc tất cả, nhưng rồi lại không cam tâm trước khó khăn nhất thời.
Nghị lực phi thường đã đưa Sùng Thị Sơ chạm tay vào cánh cổng Trường Đại học Luật Hà Nội, với số điểm ấn tượng 28,5. Khát khao trở thành luật sư để giúp đỡ những phụ nữ yếu thế như mình, ngay sau khi tốt nghiệp đại học, Sơ lập tức ghi danh theo học khóa đào tạo Luật sư tại Học viện Tư pháp.
Những ngày đầu nhập học, để có tiền trang trải cuộc sống tại Thủ đô, cô sinh viên nghèo đã làm ba bốn việc cùng lúc, từ giúp việc, dọn vệ sinh, đến nhân viên văn phòng. Mỗi ngày của Sơ bắt đầu từ 5 giờ sáng và kết thúc lúc tối muộn. Số tiền kiếm được không chỉ để đóng học phí, mà còn giúp nuôi hai em trai đang đi học ở quê.
Không chỉ đi học, đi làm, Sùng Thị Sơ còn tham gia nhiều các hoạt động bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em. Trong 4 năm học đại học, Sơ từng được nhận bằng khen của Ủy ban Dân tộc tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu, đồng thời là 1 trong 2 đại diện Việt Nam tham gia Hội thảo về phòng chống tảo hôn cấp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Sơ cũng đoạt giải Nhất Cuộc thi viết về những trải nghiệm của người phụ nữ và trở thành thành viên Quốc gia Ban Tham vấn Thanh niên của Tổ chức Plan International Việt Nam…
Ngoài ra, Sơ còn là đại biểu dự các hội nghị như Sáng kiến thanh niên tiên phong của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc, Bàn tròn thanh niên về phát triển của Liên hợp quốc. Với những nỗ lực của mình, cô gái Mông cũng từng đạt học bổng của Chính phủ Đức dành cho sinh viên nghèo vượt khó.
Từ một cô gái chỉ quanh quẩn bên nương rẫy, Sơ nay đã tự tin thuyết trình trước bạn bè quốc tế về văn hóa dân tộc và quyền con người.
“Gùi luật về non” và sứ mệnh bảo vệ người yếu thế
Hành trình vượt khó của Sùng Thị Sơ là minh chứng cho việc “con chữ” thực sự là chiếc chìa khóa mở ra tương lai. Những khó khăn từ quá khứ không làm em gục ngã, mà trở thành động lực để em theo đuổi ngành luật, với mục tiêu bảo vệ những người phụ nữ yếu thế. Khi tri thức đã đủ vững vàng, Sơ bắt đầu nghĩ đến việc quay trở lại bản làng để hỗ trợ những người còn đang mắc kẹt trong định kiến cũ như em năm xưa.
Ngay khi ngồi trên ghế nhà trường, Sùng Thị Sơ đã quy tụ những thành viên cùng chung chí hướng, bắt tay vào xây dựng dự án cá nhân mang tên “So Law Law”. Dự án ra đời với mục tiêu: Bạn không cần phải “rành luật” mới được bảo vệ; Chỉ cần bạn lên tiếng, chúng tôi sẽ lắng nghe; Chỉ cần bạn hỏi, chúng tôi sẽ giải đáp.
Nhận thấy khoảng cách địa lý và trình độ học vấn là những rào cản lớn khiến nhiều người dân vùng sâu khó tiếp cận với thông tin pháp lý chính thống, mục đích chính của dự án là phát triển, thúc đẩy giáo dục tới trẻ em và thanh niên, ngăn ngừa tảo hôn. Bên cạnh đó, nhóm tăng cường tuyên truyền luật pháp tới các cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là cộng đồng người Mông tại Việt Nam.
Cách thức vận hành của So Law Law được thiết kế linh hoạt để phù hợp với đặc thù vùng cao và thói quen của nhóm đối tượng yếu thế. Sơ ưu tiên hình thức tư vấn qua văn bản, email, hoặc tin nhắn mạng xã hội để giúp khách hàng dễ dàng nắm bắt những vụ việc phức tạp mà không mất bất kỳ chi phí nào.
Dự án đã hỗ trợ thành công nhiều trường hợp, từ việc lấy lại tiền lương cho người dân miền núi không nắm được pháp luật bị chủ thuê quỵt, đến việc giải đáp những thắc mắc về hôn nhân của các em gái dân tộc mới 14 tuổi. Những tình huống thực tế như nhiều thanh niên vùng dân tộc thiểu số quan niệm “phải có con trước khi cưới vợ để thử khả năng sinh sản”, đã cho thấy lỗ hổng kiến thức pháp luật nghiêm trọng tại các bản làng, dẫn đến nhiều hệ lụy đau lòng và rủi ro pháp lý cho các bạn trẻ.
Không chỉ dừng lại ở tư vấn cá nhân, So Law Law còn tổ chức những chương trình tuyên truyền dài ngày tại địa phương. Gần đây nhất, từ ngày 23 đến 25/5 vừa qua, dự án đã quay trở lại hai xã Sìn Hồ và xã Hồng Thu, tỉnh Lai Châu để phổ biến kiến thức cho gần 3.000 hộ dân, chủ yếu là đồng bào Mông và Dao. Các chủ đề tuyên truyền được xây dựng dựa trên khảo sát thực tế như tảo hôn và hôn nhân không đăng ký, bạo lực gia đình, ngoại tình và các hệ quả pháp lý, tranh chấp đất đai, ly hôn và quyền nuôi con... Với mục tiêu trang bị kiến thức thực tế giúp người dân tại đây hiểu đúng pháp luật, giải quyết các vấn đề ngay trong gia đình và bản làng, giảm tranh chấp, giảm rủi ro pháp lý, tăng sự đoàn kết và bình yên trong cộng đồng.
Dự án còn đặc biệt chú trọng đến đối tượng thanh thiếu niên qua chương trình “Em hiểu luật - Em an toàn”. Tại đây, khoảng 300 học sinh được trang bị kiến thức về quyền trẻ em, tảo hôn, bạo lực học đường và cách tự bảo vệ… Đây là những kiến thức pháp lý cơ bản nhưng cực kỳ quan trọng để tránh tổn thương, giúp các em học sinh hiểu rõ “cơ thể của em, quyền của em” cũng như tăng khả năng nhận diện nguy hiểm và kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Trên các nền tảng mạng xã hội, dự án So Saw Law thu hút đông đảo người theo dõi nhờ phương thức truyền tải kiến thức về luật mới mẻ. Nhóm tập trung xây dựng những tình huống giả định sát thực tế giúp độc giả dễ hình dung các vấn đề pháp lý thường gặp. Việc ứng dụng hình ảnh trực quan, đồ họa thông tin cùng video ngắn khiến nội dung sinh động. Những kiến thức luật khô khan nay được diễn giải đơn giản, giúp người dân dễ dàng nắm bắt, áp dụng vào đời sống hằng ngày.
Từ những đắng cay của hủ tục kéo vợ, cô gái người Mông Sùng Thị Sơ đã chuyển hóa khó khăn thành sức mạnh để giúp đỡ người khác thoát khỏi bóng tối. Những mầm xanh của “biết luật”, “sống đúng” đang dần nảy nở trên những nơi được Sơ ghé qua.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn