Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.
Nghi thức tâm linh đặc biệt
Tục Đắp chăn hình thành hàng chục năm về trước và duy trì cho đến ngày nay, được đồng bào Co tổ chức vào ngày mùng 7 tháng Giêng, khi tiết Xuân vẫn tràn ngập khắp đại ngàn hùng vĩ. Trong quan niệm của đồng bào Co thôn Môn, xã Thanh Bồng nói riêng và các xã vùng cao phía Tây tỉnh Quảng Ngãi nói chung, núi rừng, sông suối đều có thần linh ngự trị, cai quản. Nếu vào ngày này, ai lên nương rẫy, làm những công việc “đụng chạm” tới núi rừng sẽ làm phật ý thần linh và bị quở trách.
Theo ông Hồ Thanh Hùng (60 tuổi), tích xưa kể rằng, những bậc cao niên thường hay dặn dò bà con không nên thăm nương, rẫy vào ngày mùng 7. Bởi, ngày đó có nhiều cô hồn, người khuất mặt trở về nhà ăn Tết, còn lảng vảng khắp nơi. Nếu “giáp mặt” sẽ gặp xui xẻo triền miên, cuộc sống gặp trắc trở, biến cố, làm ăn thất bát. Có một thanh niên từng quyết tâm chứng minh điều đó là hư cấu, không có thật đã bất chấp sự ngăn cản của mọi người, tự ý vào rừng và bị hổ tấn công. Câu chuyện buồn của anh khiến ai nấy đều tiếc thương và ngày càng tin hơn vào những điều bậc cao niên truyền đạt lại.
Người dân phấn khởi khi “săn” được nhiều cá.
Chính vì vậy, thay vì lên rẫy, người dân trong thôn lại cùng nhau ra suối, thực hiện nghi thức Đắp chăn. Đồng bào Co tin tưởng, hoạt động xuống nước đầu năm như một cách “tắm rửa”, gột bỏ những điều không may mắn của năm cũ, xua tan vận rủi, đón nhận những điều tốt đẹp trong năm mới. Ngoài ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thông qua phong tục Đắp chăn, người dân còn gửi gắm ý nguyện cầu mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, gia đình ấm no, hạnh phúc.
Tục Đắp chăn còn mang giá trị thiết thực trong cuộc sống đồng bào Co. Sau khi lật đá bắt cá, thành quả được chia đều cho các hộ tham gia hoặc sử dụng để chế biến các món ngon từ cá suối mang đậm hương vị đặc trưng, hơi thở của đại ngàn; cùng giao lưu ẩm thực bên bếp lửa bập bùng cháy. Bữa cơm đầu năm vì thế thêm phần ấm cúng, đủ đầy hơn.
Xây dựng thành "điểm đến" văn hóa
Đây là lần đầu tiên xã vùng cao Thanh Bồng tái hiện lễ hội Đắp chăn với quy mô chưa từng có, quy tụ 6 thôn trên địa bàn xã tham gia. Hàng trăm người đổ ra sông Trường, hồ hởi thay nhau bê từng viên đá chất thành đập ngăn dòng chảy, tạo thành khoảnh nước cạn để “săn” các loại cá suối. Tiếng cười nói rộn vang trong buổi sớm mai.
Anh Hồ Văn Sơn cho hay, anh cảm thấy rất vui khi cùng bà con lật từng kẽ đá tìm bắt cá đép, cá lốt, cá va leu... Phong tục giúp gắn kết, thắt chặt tình cảm giữa người với người, giữa các thôn với nhau. Anh Sơn hy vọng với sự quan tâm của chính quyền, sự đồng lòng của người dân, lễ hội sẽ được tổ chức thường niên, thu hút đông đảo du khách thập phương về trải nghiệm, tạo nên nét đẹp văn hóa đặc sắc ngày Xuân.
Người dân tập trung về khu vực sông Trường bê đá đắp đập ngăn dòng chảy để bắt cá. Ảnh: Lê Phước Ngọc - TTXVN
Ông Hồ Văn Trường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thanh Bồng cho hay, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã xác định rõ về nội dung bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Co. Từ góc độ chuyên môn, chính quyền địa phương đã lên kế hoạch xây dựng và hoàn thiện lễ hội Đắp chăn. Trên cơ sở đó, chính quyền sẽ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận lễ hội là di sản văn hóa truyền thống nhằm góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần ở cơ sở; đồng thời giáo dục thế hệ trẻ về tôn trọng thiên nhiên, biết ơn núi rừng và nguồn nước - những yếu tố gắn bó mật thiết với đời sống của dân tộc mình.
Bí thư Đảng ủy xã Thanh Bồng Hồ Thị Vân thông tin, thời gian tới, xã sẽ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện mở rộng quy mô tổ chức, nhằm lan tỏa sâu rộng phong tục đến với cộng đồng. Giữa những thay đổi của cuộc sống, phong tục vẫn được gìn giữ tựa như biểu tượng của niềm tin, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, tiếp nối mạch nguồn lịch sử giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Song song đó, lễ hội còn là “cầu nối” gần gũi, vững chắc giữa cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân, nhất là sau khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động. Định hướng về lâu dài, xã sẽ gắn lễ hội với hoạt động phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm bởi nơi đây đáp ứng mọi yếu tố cần thiết./.
Tên tự gọi: Cor, Col.
Tên gọi khác: Cua, Trầu.
Dân số: 33.817 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: Hrê, Xơ Ðăng, Ba Na... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa.
Lịch sử: Người Co cư trú rất lâu đời ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam.
Hoạt động sản xuất: Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu, lúa rẫy là nguồn lương thực chính. Canh tác theo hình thức phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống, tuốt lúa bằng tay. Kỹ thuật xen canh - đa canh trên từng đám rẫy và luân canh giữa các đám rẫy. Trầu không và quế của người Co nổi tiếng lâu đời. Ðặc biệt quế quý và nhiều là một nguồn lợi lớn: quế rừng và quế trồng. Rẫy quế của mỗi gia đình là loại tài sản quan trọng, thường 10 năm trở lên mới được thu hoạch. Nhờ bán quế, các gia đình có tiền mua sắm các gia sản được ưa chuộng (cồng, chiêng, ché, trâu, v.v... và nay thì xe, đài, đồng hồ, xây nhà, đóng đồ gỗ), đồng thời cũng chi dùng vào việc ăn uống, mặc, v.v... Hình thức dùng vật đổi vật được ưa thích.
Chăn nuôi: Trâu, lợn, gà trước hết để cúng tế; chó hầu như nhà nhà đều có. Nghề dệt và rèn không phát triển. Ðồ đan đẹp và phong phú. Sản phẩm hái lượm và săn bắt có ý nghĩa không nhỏ trong đời sống người Co.
Ăn: Bữa ăn thông thường là cơm gạo tẻ, muối ớt, các loại rau rừng và thịt cá kiếm được. Trước kia, đồng bào quen ăn bốc. Ðồ uống là nước lã, rượu cần, nay nhiều người đã dùng nước chín, nước chè xanh, rượu cất. Tục ăn trầu cau chỉ được duy trì ở lớp người lớn tuổi, nhưng tục hút thuốc lá vẫn còn phổ biến.
Ở: Người Co sống tập trung ở Trà Bồng và Trà Mi thuộc tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam. Nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi. Trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên được ngăn thành từng buồng nhỏ cho các gia đình sinh hoạt riêng, còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung (tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan lát, vui chơi...). Xưa kia thường mỗi làng ở tập trung trong một vài ngôi nhà kiểu này, dài có khi hàng trăm mét, bên ngoài có rào chắn và bố trí vũ khí để phòng vệ. Gần đây, khắp vùng người Co phát triển trào lưu từng gia đình tách ra làm nhà ở riêng, nhà trệt, dựng theo kiểu nhà người Việt ở địa phương, đã có nhiều nhà lợp tôn, lợp ngói, cả nhà xây nữa.
Mặc: Ðồ mặc của người Co chủ yếu mua của người Xơ Ðăng và người Việt. Theo nếp truyền thống, nam đóng khố, ở trần, nữ quấn váy, mặc áo cộc tay; mùa lạnh thì khoác tấm vải choàng. Bộ quần áo dài với khăn xếp du nhập từ đồng bằng lên từng được dùng trưng diện trong ngày lễ hội, nhất là những bô lão khá giả. Ngày nay, quần áo người Việt được dùng lan tràn, váy còn thấy một số phụ nữ mặc nhưng đều dùng vải công nghiệp. Các loại vòng trang sức cũng chỉ bắt gặp thưa thớt, đơn giản, không dễ tìm được những phụ nữ quấn nhiều chuỗi hạt cườm quanh đầu, quanh cổ tay, cổ chân, trước ngực và quanh thắt lưng như trước kia nữa.
Phương tiện vận chuyển: Người Co có các loại gùi tự đan dùng để vận chuyển rất tiện lợi, thích hợp với điều kiện đất dốc, rừng núi và suối. Mọi thứ đều bỏ trong gùi và gùi được cõng trên lưng, có 2 quai quàng qua đôi vai.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng có ông "già làng" được mọi người kính trọng và nghe theo. Dân làng sinh sống trên một địa vực ổn định có ranh giới, việc chuyển dịch cư trú của làng cũng chỉ trong vùng lãnh thổ ấy. Trong làng thường có quan hệ thân thuộc qua lại với nhau: hoặc về huyết thống, hoặc do hôn nhân. Tuy mỗi gia đình làm ăn riêng, chiếm hữu riêng đất rẫy, nhưng tính cộng đồng làng khá cao. Xã hội truyền thống Co đã nảy sinh giàu - nghèo khác nhau, nhưng chưa phát triển các hình thức bóc lột: nô lệ gia đình, cho vay nặng lãi...
Cưới xin: Hình thức hôn nhân cư trú đằng chồng là phổ biến. Phong tục cho phép nếu vợ chết có thể lấy tiếp em hoặc chị của vợ, nhưng vợ goá không thể lấy em chồng; nếu 2 anh em trai lấy 2 chị em gái thì phải anh lấy chị, em lấy em; nếu con gái nhà này đã làm dâu nhà kia thì 2 - 3 đời sau nhà kia mới gả con gái cho nhà này. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung cha mẹ đều không được lấy nhau. Cùng một gốc sinh thành, nếu là anh em trai thì đời chắt của họ hoặc sau đó nữa mới có thể lấy nhau, song nếu là chị em gái hay một gái một bên trai thì cháu hoặc chắt của họ có thể lấy nhau. Ðám cưới đơn giản, gọn nhẹ, không tốn kém nhiều, chỉ là dịp mọi người uống rượu vui chứng kiến đôi trai gái thành vợ, thành chồng.
Ma chay: Quan tài gỗ, đẽo theo kiểu độc mộc. Người chết được chôn trong bãi mộ của làng, đặt không xa chỗ ở. Tang gia "chia của" cho người mới chết, đưa ra mộ không chỉ vật dụng và tư trang của người ấy, mà cả ché, chiêng...
Thờ cúng: Những đỉnh núi cao được người Co gọi là núi Ông núi Bà. Họ cho rằng có "thần linh" trú ngụ ở đó. Hệ thống "ma" (ka muych) và "thần" (kơi, ma) rất đông: ma người chết bình thường, ma người chết bất bình thường, ma quế, ma cây đa, ma nước, thần bếp lửa... Bởi vậy, người ra có nhiều kiêng cữ và cúng quải gắn với sản xuất và đời sống.
Lễ tết: Người Co có nhiều lễ, lớn nhất là lễ có đâm trâu tế thần - đây cũng là ngày hội lớn trong làng. Ngoài ra, tết gắn với sự kết thúc một mùa lúa rẫy là dịp sinh hoạt nhộn nhịp. Trong hai dịp đó, các món ăn dân tộc, nghệ thuật dân tộc và trang phục dân tộc được thể hiện tập trung, khơi dậy văn hoá truyền thống.
Lịch: Cách tính ngày tháng tương đương với âm lịch của người Việt, nhưng chỉ có 10 tháng, tiếp đến là thời gian nghỉ ngơi sau vụ canh tác. Bên cạnh đó, người Co coi trọng việc xác định ngày tốt, xấu để thực hiện các công việc khác nhau.
Văn nghệ: Ưa thích âm nhạc, dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến: nhạc cụ còn có trống, các loại đàn nhị. Múa chỉ xuất hiện trong lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và cái "gu" trong lễ hội đâm trâu.
Theo cema.gov.vn