Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.
Tại xã Song Lộc, Tổ chi hội nghề nghiệp mô hình trồng chanh không hạt có 35 thành viên sản xuất trên tổng diện tích gần 22 ha; trong đó, chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer. Năm nay, thành viên Tổ hợp tác đón Tết rất phấn khởi bởi giá chanh không hạt tăng gấp đôi cùng kỳ năm trước.
Ông Sơn Hải Phong, Tổ trưởng chi hội nghề nghiệp cho biết, do đang vào vụ nghịch nên sản lượng chanh thương phẩm giảm, nguồn cung sụt, trong khi nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu dịp cuối năm tăng cao, kéo theo giá chanh tăng mạnh. Mô hình được triển khai từ cuối năm 2023; toàn bộ sản lượng chanh thương phẩm chủ yếu cung cấp cho Hợp tác xã trồng chanh không hạt Thành Chí, (xã Tân An) để xuất khẩu sang thị trường Hà Lan. Nhờ vậy, đầu ra sản phẩm ổn định, giá bán luôn cao hơn giá thị trường từ 5.000 đồng/kg trở lên.
Tham gia mô hình, các thành viên được tập huấn kỹ thuật và sản xuất theo quy trình do Hợp tác xã trồng chanh không hạt Thành Chí hướng dẫn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Từ khâu xử lý ra hoa, bón phân cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc "4 đúng" đến thu hoạch, sơ tuyển đều thực hiện nghiêm ngặt; nhà vườn ghi chép nhật ký sản xuất, đảm bảo truy xuất nguồn gốc.
Dịp Tết này, Tổ chi hội đã xuất bán hơn 5 tấn chanh không hạt cho Hợp tác xã Thành Chí với giá từ 35.000 - 42.000 đồng/kg tùy đợt, cao gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Cùng đó, hầu hết các vườn chanh của tổ đều bước vào giai đoạn cho năng suất ổn định nên sản lượng tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước.
Bà Thạch Thị Thụm, ấp Đai Tèn, thành viên Tổ chi hội nghề nghiệp mô hình trồng chanh không hạt xã Song Lộc cho biết, gia đình chuyển đổi 5.000 m2 đất trồng lúa sang trồng chanh được 3 năm. Năm nay, nhờ giá bán và năng suất đều tăng, thu nhập được cải thiện đáng kể. "Giá chanh tăng gấp đôi, lại có đầu ra ổn định nên gia đình yên tâm sản xuất. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận cao hơn nhiều so với trồng lúa trước đây, nhờ đó có điều kiện chuẩn bị Tết đầy đủ hơn", bà Thụm chia sẻ.
Ông Thạch Danh, xã Song Lộc thu hoạch dưa lưới dịp Tết. Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN
Không chỉ chanh không hạt, mô hình trồng dưa lưới của Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao xã Song Lộc cũng ghi nhận vụ sản xuất thuận lợi. Nhờ đầu tư nhà màng, hệ thống tưới tiết kiệm và tuân thủ quy trình kỹ thuật, năng suất dưa lưới tăng khoảng 10% so với năm trước. Giá bán dưa lưới thương phẩm dao động từ 40.000 - 60.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 10.000 đồng/kg so với cùng thời điểm năm trước.
Ông Huỳnh Sa Rây, Tổ trưởng Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao xã Song Lộc cho biết, gia đình bắt đầu trồng dưa lưới từ năm 2019 trong nhà màng trên diện tích 1.000 m2; sau 2 năm ông tiếp tục mở rộng lên 4 nhà màng. Dịp Tết năm nay, 4 nhà màng cho sản lượng trên 10 tấn, với giá bán 60.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, ông đạt lợi nhuận trên 200 triệu đồng. Sức mua dịp Tết tăng mạnh, nhiều thời điểm thương lái đặt hàng trước nhưng nguồn cung không đủ đáp ứng. "Giá bán tăng, đầu ra ổn định nên bà con rất phấn khởi, có thêm điều kiện chăm lo gia đình và chuẩn bị Tết chu đáo hơn", ông Sa Rây cho biết.
Hiện Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao xã Song Lộc có 7 hộ tham gia trồng dưa lưới, sản xuất 4 vụ/năm trên diện tích 1,2 ha; trong đó 11 nhà màng và 1 nhà lưới. Mô hình áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, bón phân và kiểm soát sâu bệnh theo hướng an toàn sinh học. Nhờ tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật từ khâu chọn giống, xử lý, kiểm soát dinh dưỡng, vì vậy trái dưa sinh trưởng tốt, mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo nên đầu ra thuận lợi. Năng suất bình quân đạt khoảng từ 1,8 - 2,2 tấn/1.000 m2; giá bán thường xuyên duy trì ở mức 40.000 - 50.000 đồng/kg thời gian qua; các hộ trồng dưa lưới của Tổ đạt lợi nhuận bình quân từ 40 - 45 triệu đồng/1.000 m2/vụ.
Ông Sa Rây cho biết thêm, tuy dưa lưới cho lợi nhuận cao nhưng do vốn đầu tư ban đầu khá lớn, khoảng 400 triệu đồng/nhà màng và 70 triệu đồng/nhà lưới với diện tích 1.000 m2, đồng thời đòi hỏi kỹ thuật trồng cao nên nông dân trên địa bàn chưa mạnh dạn tham gia mô hình.
Theo Chủ tịch UBND xã Song Lộc Ngô Hồng Thanh, xã có hơn 42.600 nhân khẩu; trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm khoảng 52%, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp.
Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích đất lúa kém hiệu quả, thời gian qua địa phương tích cực vận động người dân chuyển sang trồng cây ăn trái, rau màu và các loại cây có giá trị kinh tế cao. Đến nay, xã đã hình thành một số mô hình sản xuất trọng điểm như chanh không hạt, dưa lưới công nghệ cao, dừa và một số loại cây ăn trái khác, bước đầu mang lại hiệu quả rõ rệt.
Các mô hình này không chỉ nâng cao giá trị sản xuất trên cùng đơn vị diện tích mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là hộ đồng bào Khmer. Việc phát triển các tổ hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ giúp đồng bào tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm, góp phần giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Năm nay, xã dự kiến tiếp tục chuyển đổi khoảng 20 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng dừa, cây ăn trái và các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Địa phương sẽ tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình hiệu quả; đồng thời phối hợp hỗ trợ cây giống, tạo điều kiện để người dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, từng bước phát triển sản xuất bền vững.
Tỉnh Vĩnh Long hiện có hơn 353.000 đồng bào Khmer, chiếm trên 8,4% dân số toàn tỉnh, sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn và gắn bó với sản xuất nông nghiệp. Nhờ thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả, đời sống kinh tế của nhiều hộ đồng bào Khmer từng bước được cải thiện, hộ nghèo giảm mạnh từng năm.
Những chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp đang tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào Khmer tỉnh Vĩnh Long. Từ hiệu quả của các mô hình liên kết và ứng dụng kỹ thuật, nhiều hộ gia đình đã có nền tảng kinh tế ổn định hơn, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng bào Khmer Vĩnh Long đón Xuân mới với niềm tin vào một năm sản xuất thuận lợi, bền vững và phát triển./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn