Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

vinh-long2-130226.jpg
Gia đình bà Thạch Thị Thụm, ấp Đai Tèn, thành viên Tổ chi hội nghề nghiệp mô hình trồng chanh không hạt xã Song Lộc thu hoạch chanh.

Tại xã Song Lộc, Tổ chi hội nghề nghiệp mô hình trồng chanh không hạt có 35 thành viên sản xuất trên tổng diện tích gần 22 ha; trong đó, chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer. Năm nay, thành viên Tổ hợp tác đón Tết rất phấn khởi bởi giá chanh không hạt tăng gấp đôi cùng kỳ năm trước.

Ông Sơn Hải Phong, Tổ trưởng chi hội nghề nghiệp cho biết, do đang vào vụ nghịch nên sản lượng chanh thương phẩm giảm, nguồn cung sụt, trong khi nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu dịp cuối năm tăng cao, kéo theo giá chanh tăng mạnh. Mô hình được triển khai từ cuối năm 2023; toàn bộ sản lượng chanh thương phẩm chủ yếu cung cấp cho Hợp tác xã trồng chanh không hạt Thành Chí, (xã Tân An) để xuất khẩu sang thị trường Hà Lan. Nhờ vậy, đầu ra sản phẩm ổn định, giá bán luôn cao hơn giá thị trường từ 5.000 đồng/kg trở lên.

Tham gia mô hình, các thành viên được tập huấn kỹ thuật và sản xuất theo quy trình do Hợp tác xã trồng chanh không hạt Thành Chí hướng dẫn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Từ khâu xử lý ra hoa, bón phân cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc "4 đúng" đến thu hoạch, sơ tuyển đều thực hiện nghiêm ngặt; nhà vườn ghi chép nhật ký sản xuất, đảm bảo truy xuất nguồn gốc.

Dịp Tết này, Tổ chi hội đã xuất bán hơn 5 tấn chanh không hạt cho Hợp tác xã Thành Chí với giá từ 35.000 - 42.000 đồng/kg tùy đợt, cao gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Cùng đó, hầu hết các vườn chanh của tổ đều bước vào giai đoạn cho năng suất ổn định nên sản lượng tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước.

Bà Thạch Thị Thụm, ấp Đai Tèn, thành viên Tổ chi hội nghề nghiệp mô hình trồng chanh không hạt xã Song Lộc cho biết, gia đình chuyển đổi 5.000 m2 đất trồng lúa sang trồng chanh được 3 năm. Năm nay, nhờ giá bán và năng suất đều tăng, thu nhập được cải thiện đáng kể. "Giá chanh tăng gấp đôi, lại có đầu ra ổn định nên gia đình yên tâm sản xuất. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận cao hơn nhiều so với trồng lúa trước đây, nhờ đó có điều kiện chuẩn bị Tết đầy đủ hơn", bà Thụm chia sẻ.

Ông Thạch Danh, xã Song Lộc thu hoạch dưa lưới dịp Tết. Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Ông Thạch Danh, xã Song Lộc thu hoạch dưa lưới dịp Tết. Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Không chỉ chanh không hạt, mô hình trồng dưa lưới của Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao xã Song Lộc cũng ghi nhận vụ sản xuất thuận lợi. Nhờ đầu tư nhà màng, hệ thống tưới tiết kiệm và tuân thủ quy trình kỹ thuật, năng suất dưa lưới tăng khoảng 10% so với năm trước. Giá bán dưa lưới thương phẩm dao động từ 40.000 - 60.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 10.000 đồng/kg so với cùng thời điểm năm trước.

Ông Huỳnh Sa Rây, Tổ trưởng Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao xã Song Lộc cho biết, gia đình bắt đầu trồng dưa lưới từ năm 2019 trong nhà màng trên diện tích 1.000 m2; sau 2 năm ông tiếp tục mở rộng lên 4 nhà màng. Dịp Tết năm nay, 4 nhà màng cho sản lượng trên 10 tấn, với giá bán 60.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, ông đạt lợi nhuận trên 200 triệu đồng. Sức mua dịp Tết tăng mạnh, nhiều thời điểm thương lái đặt hàng trước nhưng nguồn cung không đủ đáp ứng. "Giá bán tăng, đầu ra ổn định nên bà con rất phấn khởi, có thêm điều kiện chăm lo gia đình và chuẩn bị Tết chu đáo hơn", ông Sa Rây cho biết.

Hiện Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao xã Song Lộc có 7 hộ tham gia trồng dưa lưới, sản xuất 4 vụ/năm trên diện tích 1,2 ha; trong đó 11 nhà màng và 1 nhà lưới. Mô hình áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, bón phân và kiểm soát sâu bệnh theo hướng an toàn sinh học. Nhờ tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật từ khâu chọn giống, xử lý, kiểm soát dinh dưỡng, vì vậy trái dưa sinh trưởng tốt, mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo nên đầu ra thuận lợi. Năng suất bình quân đạt khoảng từ 1,8 - 2,2 tấn/1.000 m2; giá bán thường xuyên duy trì ở mức 40.000 - 50.000 đồng/kg thời gian qua; các hộ trồng dưa lưới của Tổ đạt lợi nhuận bình quân từ 40 - 45 triệu đồng/1.000 m2/vụ.

Ông Sa Rây cho biết thêm, tuy dưa lưới cho lợi nhuận cao nhưng do vốn đầu tư ban đầu khá lớn, khoảng 400 triệu đồng/nhà màng và 70 triệu đồng/nhà lưới với diện tích 1.000 m2, đồng thời đòi hỏi kỹ thuật trồng cao nên nông dân trên địa bàn chưa mạnh dạn tham gia mô hình.

vinh-long3-130226.jpg
Chủ tịch UBND xã Song Lộc Ngô Hồng Thanh (bên trái) tìm hiểu tình hình sản xuất dưa lưới tại Tổ hợp tác trồng màu công nghệ cao.

Theo Chủ tịch UBND xã Song Lộc Ngô Hồng Thanh, xã có hơn 42.600 nhân khẩu; trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm khoảng 52%, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp.

Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích đất lúa kém hiệu quả, thời gian qua địa phương tích cực vận động người dân chuyển sang trồng cây ăn trái, rau màu và các loại cây có giá trị kinh tế cao. Đến nay, xã đã hình thành một số mô hình sản xuất trọng điểm như chanh không hạt, dưa lưới công nghệ cao, dừa và một số loại cây ăn trái khác, bước đầu mang lại hiệu quả rõ rệt.

Các mô hình này không chỉ nâng cao giá trị sản xuất trên cùng đơn vị diện tích mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là hộ đồng bào Khmer. Việc phát triển các tổ hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ giúp đồng bào tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm, góp phần giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Năm nay, xã dự kiến tiếp tục chuyển đổi khoảng 20 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng dừa, cây ăn trái và các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Địa phương sẽ tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình hiệu quả; đồng thời phối hợp hỗ trợ cây giống, tạo điều kiện để người dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, từng bước phát triển sản xuất bền vững.

vinh-long4-130226.jpg
Ông Thạch Danh, xã Song Lộc thu hoạch dưa lưới dịp Tết.

Tỉnh Vĩnh Long hiện có hơn 353.000 đồng bào Khmer, chiếm trên 8,4% dân số toàn tỉnh, sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn và gắn bó với sản xuất nông nghiệp. Nhờ thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả, đời sống kinh tế của nhiều hộ đồng bào Khmer từng bước được cải thiện, hộ nghèo giảm mạnh từng năm.

Những chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp đang tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào Khmer tỉnh Vĩnh Long. Từ hiệu quả của các mô hình liên kết và ứng dụng kỹ thuật, nhiều hộ gia đình đã có nền tảng kinh tế ổn định hơn, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng bào Khmer Vĩnh Long đón Xuân mới với niềm tin vào một năm sản xuất thuận lợi, bền vững và phát triển./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Nhiều năm gắn bó với nghệ thuật múa, Thạc sĩ Hà Trung, Phó Trưởng khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Lào Cai luôn dành tâm huyết nghiên cứu, giảng dạy và truyền dạy nghệ thuật Xòe Thái. Với anh, mỗi điệu xòe là một hình thức biểu diễn nghệ thuật, chứa đựng những giá trị văn hóa được cộng đồng người Thái lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Giữa nhịp sống phát triển của xã hội hiện nay, nhiều nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang dần bị mai một. Thế nhưng tại xã Khun Há tỉnh Lai Châu, những người phụ nữ dân tộc Lự vẫn miệt mài bên khung cửi, gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đồng thời từng bước đưa thổ cẩm trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bệnh viện Quân y 4, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 4, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo” với nhiều hoạt động thiết thực.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.