Hội xuống đồng của người Tày

Hội xuống đồng của người Tày
Đêm 30 Tết, khi gà gáy canh một, đại diện các dòng họ cùng ông mo làm lễ rước nước thiêng về bản. Nước được chọn lấy ở nơi mạch nước đang tuôn chảy đầu nguồn suối “Him đón”. Trong tiếng chuông rộn rã đôi nam nữ thận trọng khiêng quả bầu lớn đựng nước nguồn về làng. Quả bầu đựng còn được trịnh trọng đặt lên bàn cúng của ông mo. Bên cạnh bàn thờ, ông mo còn xếp một cuộn dây mây to dùng để kéo co. Sáng ngày mở hội, ông mo được một đoàn người đánh chiêng rước xuống đồng làm lễ. Đi đầu là người đánh chiêng, hai người thổi kèn loa gỗ, theo sau là ông mo, đôi nam nữ bê mâm cúng của ông mo và khiêng bầu nước nguồn, một đôi nam nữ khiêng cuộn dây mây kéo co, đi sau cùng là 2 người khiêng trống, vừa đi vừa đánh. Địa điểm mở hội thường diễn ra ở giữa cánh đồng, gần bờ suối.

Ở làng Làn, huyện Văn Bàn, giữa cánh đồng dựng một giàn cúng bằng tre, nứa cao khoảng 1,2m rộng 40cm theo hình chữ U. Phần trang trọng nhất (đáy chữ U) là giàn cúng chính đặt ở hướng Đông. Phía sau giàn cúng đan cài những cành lá đao (cây báng họ cau cọ, thường lấy làm bột lương thực, nấu rượu). Mâm cúng của ông mo đặt ở giữa giàn cúng. Trên mâm có bát nước (lấy trong bầu nước thiêng, đáy bát có một đồng bạc trắng), một đĩa xôi đỏ, một đĩa xôi vàng, một con gà nhỏ luộc, một xâu cá nướng, một bát tiết luộc, một con dao nhọn, một bó vải mới dệt. Hình nộm hai con cá làm bằng giấy bản màu vàng, hai con chim cú làm bằng giấy bản màu đỏ, hai chùm hoa bằng hạt gạo rang đầu cắm trên những mảnh bẹ thân chuối để trang trọng trên mâm. Hai bên mâm cúng của thầy mo là hai chùm quả đao. Dưới giàn cúng đặt cuộn dây mây kéo co. Tiếp theo hai bên mâm cúng của thầy mo là mâm cúng của các chức dịch và dân làng, cuối cùng là mâm của những người mới chuyển về bản trong năm. Các mâm cúng của các chức dịch và dân chủ yếu là các món ăn, không có bát nước, con dao, đĩa tiết.

Một hồi chiêng vang lên, lễ cúng mở hội bắt đầu. Thầy mo cung kính đọc lên bài cúng mời thần bản, thần các con suối (nữ thần), thần các ngọn núi (nam thần) về dự lễ cúng. Nội dung các bài cúng cầu mong: lúa tốt như cỏ lau, cỏ lác, hạt to như quả đao không có sâu cắn phá; cá nằm chật suối, chật ao; trâu lợn đầy đàn; gà vịt đầy sân; người người khỏe mạnh, nhà nhà đông con, bản thêm nhiều trẻ nhỏ, xóm không người ốm đau…

Cúng xong ở giàn cúng chính, thầy mo lại trịnh trọng đến cúng ở cột cây còn. Cây còn là một cây mai dài khoảng 20m, có lá ngọn uốn cong thành hình tròn, đường kính khoảng 40cm (2 gang tay). Một bên hình tròn (phía Đông) dán giấy đỏ tượng trưng cho mặt trời, một bên dán giấy vàng (phía Tây) tượng trưng cho mặt trăng. Thân còn buộc thêm cành lá đao. Dưới gốc còn là một mâm cúng chung của cả bản gồm một con gà trống to luộc, một thủ lợn luộc, xâu cá nướng và hai đĩa xôi màu đỏ, màu vàng, hai quả còn (trong nhồi thóc, hạt bông, cát) có tua màu đỏ. Sau khi cúng xong, thầy mo tung cao hai quả còn cho các chàng trai tranh cướp đầy náo nhiệt vui vẻ. Chàng trai nào cướp được quả còn của ông mo đầu tiên, cũng là người đầu tiên ném còn, mở đầu cuộc vui ném còn. Các quả còn liên tiếp bay lên hạ xuống hai bên nam và nữ. Chàng trai ném quả còn qua phông còn cho các thiếu nữ bắt, các thiếu nữ tung còn cho các chàng trai. Ai cũng náo nức ném trúng phông còn. Và quả còn ném trúng phông còn sẽ được ông mo rạch ra, lấy hạt bông, hạt thóc trộn với thúng thóc rang tung lên đám đông người dự hội. Mọi người chen lấn, xô đẩy nhau, đưa vạt áo ra hứng cho bằng được một ít hạt thóc rang, mong nhận được phần nhiều.

Hết trò ném còn là trò kéo co. Lúc đầu kéo co còn mang tính chất nghi lễ, thường chia làm các phe như phe của các gia đình ở phía trên mỏ nước kéo với phe của những gia đình dưới mỏ nước. Đại diện phía thượng nguồn phải giành phần thắng hoặc có nơi thì kéo co giữa đại diện các gia đình phía Tây bản. Tất nhiên phải dành cho phía Đông phần thắng thì năm đó mới được mùa. Nghi lễ kéo co còn diễn ra với hình thức kéo co giữa người già (trên 50 tuổi) và người trẻ (dưới 20 tuổi). Ông mo hướng về phía mặt trời lặn, gõ 3 hồi chiêng, đọc lời khấn: “kéo lấy lúa lấy má, kéo lấy tằm lấy tơ, kéo lấy khoẻ lấy già. Trẻ thì cho được già, già thì cho được khoẻ”. Ông mo vừa hết lời thì cả đoàn kéo co và bên người già giành phần thắng. Tương tự như vậy, nghi lễ kéo co giữa nam và nữ cũng diễn ra sôi nổi. Tất nhiên phần thắng là nữ.

Một số thanh niên nam nữ lại chơi trò chơi đánh én (cầu lông bằng ống trúc cắm 3 chiếc lông gà). Mở đầu trò chơi, ông mo thường đánh cầu với một bà già đông con ở gần cột còn, đứng theo hướng ném còn: Đông – Tây. Về sau phía nam nữ thanh niên đều chọn nơi khuất gió, đánh én cho được thuận lợi. Ai để én rơi sẽ bị vò tai hay phải tặng đối thủ một vật kỷ niệm: túi thổ cẩm, một tấm khăn, thậm chí cả vòng bạc.
 
Nghi lễ cầu phúc, cầu mùa theo phong tục cổ truyền được thực hiện tại sân khấu lễ hội.
Nghi lễ cầu phúc, cầu mùa theo phong tục cổ truyền được thực hiện tại sân khấu lễ hội.

Hết phần kéo co, đánh én mang tính nghi lễ, trống được treo ngay cạnh gốc còn. Một bà già (người phụ nữ đông con trai) trực tiếp đánh trống làm nhịp cho các điệu múa. Theo nhịp điệu của trống, một tốp 12 người (6 nam, 6 nữ) cầm mộc và kiếm ra trình diễn trò múa kiếm. Khi tiếng trống vang “tung” người cầm kiếm phải đâm mũi kiếm vào mộc, người múa buộc phải ưỡn phần thân dưới đưa mộc ra đỡ.

Múa kiếm kết thúc, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên dồn dập, gọi mọi người tay cầm tay nhau vào điệu xoè vòng. Trống ở giữa, vòng xoè quanh trống ngày càng rộng vì ai cũng muốn nắm tay vào vòng xoè.

Hội xuống đồng của người Tày là một lễ hội cầu mùa điển hình. Cả phần lễ lẫn phần hội đều tập trung phản ánh ước nguyện của dân làng là mong ước được mùa, người người khoẻ mạnh, sinh nhiều con cháu. Mục đích chỉ có vậy, nhưng hội xuống đồng tập trung cả một hệ thống tín ngưỡng để phản ánh ước vọng này. Các tín ngưỡng đan xen, hoà nhập vào nhau khó mà tách bạch. Các tín ngưỡng thường bao quanh các yếu tố ảnh hưởng đến nông nghiệp như:  sinh sản, nước, mặt trời, cây lúa.

1. Hội xuống đồng là hội mở đầu một chu kỳ sản xuất, nên nó luôn phản ánh ước mong sinh sản. Sinh sôi nảy nở là yêu cầu hàng đầu của hội, vì vậy tín ngưỡng phồn thực được thể hiện bằng các lễ thức ma thuật, diễn xướng, luôn xuyên suốt các hoạt động lễ hội.

Một số nhà  nghiên cứu đã lý giải trò ném còn là hành động tượng trưng diễn lại ý niệm nam nữ giao phối. Quả còn tượng trưng cho nam tính, ném vào phông còn, phá vỡ phông còn (màng trinh) sẽ được mùa. Quả còn mang nam tính nên trong nghi lễ trao còn, ông mo trao quả còn, để trên mâm cúng (nam tính được nạp thêm năng lượng thiêng) cho các trai tráng. Và tất nhiên, khi ném còn nghi lễ, mở đầu cuộc ném là nam giới, bên nhận còn là nữ giới. Khi ném trúng phông còn, ông mo còn tung hạt giống (có năng lượng thiêng, có sự sinh sản mạnh) cho mọi người tranh cướp. Đó là trao truyền tính chất thiêng của hành động nam nữ giao hợp sang hạt giống, nhằm chia thêm chất thiêng cho thành viên cộng đồng.

Đặc biệt tính phồn thực còn thể hiện rõ nhất ở điệu múa kiếm và mộc ở Văn Bàn. Khi tiếng trống “tùng” trong nhịp trống thì mọi người lại chọc thanh kiếm vào mộc, khi đó người cầm mộc cũng ưỡn nửa thân dưới ra phía trước. Có một số người (kể cả dân bản) đều cho rằng đây là điệu múa kiếm mang tính chất thượng võ. Nhưng thực ra cốt lõi của điệu múa kiếm là diễn tả lại hành động giao hợp. Kiếm là biểu tượng của dương vật, còn mộc là biểu tượng của âm vật. Én cũng là biểu tượng của nam tính (theo tín  ngưỡng cổ của người Tày đăm). Do đó đánh én cũng là hành động giao hoà nam nữ.
 
Nghi lễ xuống đồng với đường cày đầu tiên, mong muốn vạn vật sinh sôi, mùa màng tươi tốt.
Nghi lễ xuống đồng với đường cày đầu tiên, mong muốn vạn vật sinh sôi, mùa màng tươi tốt.

2. Trước đây, thời điểm tổ chức hội xuống đồng vào khoảng tháng 3, tháng 4 Âm lịch, là thời điểm đón những cơn mưa đầu mùa. Về sau do ăn Tết Nguyên đán, hội mới mở vào tháng Giêng. Nước là yếu tố quyết định của nền nông nghiệp ruộng nước, vì vậy dấu vết cầu mưa phản ánh khá đậm nét trong hội xuống đồng.

Nước để cúng trong ngày hội phải là nước nguồn mang tính chất tinh khiết chảy mãi không cạn. Nước được người dân đánh chiêng rước về, đặt trên bản thờ ông mo (thêm phần thiêng). Trong các thần linh về dự hội, bên cạnh những thần núi (nam thần) còn có thần mỏ nước (nữ thần) - biểu hiện của âm dương hoà hợp. Đặc biệt, ngay sau lễ cúng, ông mo còn niệm chú (nhằm tăng chất thiêng) rồi ngậm nước phun 4 hướng. Đó là hành động mô phỏng cầu mưa, mong mưa tưới khắp trần gian. Ngay lúc đó, một hồi trống đổ vang rền như sấm đổ hội, trống bịt da chiêng. Theo Giáo sư Tô Ngọc Thanh (2007), các nhạc cụ thiêng là hiện thân của thần sông. Trong trò kéo co có phần kéo giữa người thượng nguồn và hạ nguồn con suối, đại diện phía thượng nguồn (có mỏ nước) thắng thì năm đó sẽ mưa thuận gió hoà và được mùa: “kéo lên nguồn - nguồn thắng - nước tràn bờ, đầy khe”.

3. Mặt trời cũng là những yếu tố cực kỳ quan trọng, đảm bảo cho lúa được mùa. Do đó tín ngưỡng liên quan đến mặt trời cũng phảng phất trong lễ hội xuống đồng.

Bàn thờ chính sắp các mâm cúng quan trọng nhất (ông mo, các chức dịch…) lại làm ở hướng Đông - hướng mặt trời mọc. Mâm cúng của gia đình nào cũng có 2 đĩa xôi chính: xôi đỏ (tượng trưng cho mặt trời), xôi vàng (tượng trưng cho mặt trăng). Mâm cúng của ông mo đặt ở vị trí trang trọng nhất, màu đỏ gần như là màu chủ đạo: đĩa xôi đỏ to, 2 con chim yến bằng giấy đỏ, đĩa tiết gà màu đỏ… Mâm của ông mo lại đặt trên vuông giấy đỏ. Và phía sau mâm là nền xanh của lá đao rừng. Sắc đỏ nổi trên mâm cúng – mâm cúng lại nằm ở phía Đông, lá đao rừng làm nền xanh, khiến mọi người không khỏi liên tưởng đến hình tượng mặt trời.

Quan sát trò chơi ném còn không khỏi liên tưởng đến tín ngưỡng thờ mặt trời. Một bên phông còn màu đỏ tượng trưng cho mặt trời, quả còn được ném từ Đông sang Tây (hướng đi của mặt trời). Và hình nộm chim én cũng bằng giấy đỏ - biểu tượng của mặt trời cũng bày la liệt trên các mâm cúng. Trò chơi đánh én được mở đầu bằng nghi thức ông mo tung én (biểu tượng của mặt trời) cho bà già theo hướng Đông Tây. Trong trò kéo co, bên thắng cuộc phải là hướng Đông (mặt trời mọc). Ngay vòng xoè quanh cột còn cũng chuyển động từ phải sang trái - chiều chuyển động ảo của mặt trời. Đường vòng trong khép kín này có ý nghĩa là biểu tượng của mặt trời. Hình tượng mặt trời càng trở lên sống động hơn trong lễ hội xuống đồng.
 
Hội xuống đồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tày có nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật…
Hội xuống đồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tày có nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật…

4. Tất cả những tín ngưỡng trên đều nhằm một mục đích mong cây lúa sinh sôi nảy nở. Cây lúa và hạt thóc trở thành hình tượng trung tâm của ngày hội.

Lễ đón ông mo và mâm cúng của ông mo diễn ra trang trọng. Ông mo đi trước, theo sau là người bê mâm cúng và rổ đựng thóc rang thành bỏng, thóc rang hoặc ngô rang là biểu tượng của hạt giống, nó còn được tiếp nhận năng lượng thiêng liêng vì được đặt trên bàn thờ nhà ông mo. Hạt giống thiêng này sau đó sẽ được phân phát cho mọi người thành viên qua nghi thức quãi hạt giống, nhằm gieo giống cho mọi người gặt hái mùa màng tốt tươi (như đã trình bày). Một điều đặc biệt nữa là gần bàn thờ ông mo, bên cạnh rổ đựng hạt giống là chùm quả đao. Ông mo khi cúng cũng khấn câu “Mong hạt lúa to như quả đao”. Tại sao lại như vậy?

Cây đao, người Việt gọi là cây báng, một loại cây thuộc họ cau cọ. Đó là loại cây lương thực của người Tày. Đồng bào thường lấy bột cây đao trộn với cơm hoặc nấu rượu. Có thể trước khi tìm ra lúa, người Tày sống chủ yếu nhờ vào bột đao. Sau này tuy có lúa, họ vẫn không quên cây đao và cây đao đã đi vào hội xuống đồng như một loại cây thiêng phù hộ cho lúa, truyền năng lượng thiêng cho lúa. Lễ hội xuống đồng còn hé mở cả lịch sử tiền nông nghiệp của người Tày. Lịch sử kinh tế tái hiện mà cây đao là đại diện.

Cây còn còn là biểu tượng của cây lúa thiêng – cây vũ trụ nối đất trời (âm – dương). Hai bên trai gái (âm – dương) ném còn. Trao quả còn cũng là hình tượng âm dương hoà hợp. Và ngay phông còn dán mặt đỏ (mặt trời, dương) mặt vàng (mặt trăng, âm) cũng phản ánh mối quan hệ như vậy. Quan niệm âm dương hoà hợp sẽ mưa thuận gió hoà, được mùa. Cây lúa thiêng sẽ sinh sôi nảy nở và càng được tăng thêm năng lượng thiêng nhờ thân cây buộc cành lá đao “Cây lúa mẹ sẽ truyền thêm năng lượng thiêng cho cây lúa có quả to như quả đao”.

5. Trong hội xuống đồng có sinh hoạt xoè vòng. Trống xoè treo ngay ở cột còn. Cây còn trở thành trung tâm điểm. Đội hình múa quanh cột còn là đội hình hướng tâm. Nguồn gốc của nó là những sinh hoạt cộng đồng quanh đống lửa thời xa xưa. Mặt khác đường vòng này không chỉ được tạo bởi đội hình múa mà chúng còn là một đường vòng của âm thanh trống chiêng. Từ tâm điểm là cột còn, tiếng trống sẽ lan truyền ra xung quanh. Bao bọc bên ngoài đội hình múa hướng tâm lại là vòng tròn dân làng xem hội.

Có thể ngày xưa xã hội còn mang tính chất dân chủ cộng đồng, cây còn mới là trung tâm tiếp nhận năng lượng thiêng của ngày hội. Từ tâm điểm này (cây còn) năng lượng thiêng lan toả đều, chia cho mọi thành viên. Tính dân chủ cộng đồng được đề cao. Mọi người đều bình đẳng đón nhận năng lượng thiêng. Về sau xã hội phân hoá, vị trí năng lượng thiêng từ cây còn chuyển sang bàn thờ (giàn cúng hình chữ U). Nhưng ở đây tính chất bình quân, bình đẳng không còn nữa. Vị trí trang trọng nhất có khả năng nhận năng lượng thiêng liêng lớn nhất là phần đáy chữ U – nơi đặt bàn thờ của ông mo theo hướng mặt trời mọc. Sau mâm cúng của ông mo, đến mâm cúng của các gia đình chức sắc, người dân của bản và cuối cùng mới đến các gia đình ngụ cư. Năng lượng thiêng không chia đều mà mang tính chất “đặc quyền, đặc lợi” cho một số người.

Hội xuống đồng - như một bể trầm tích các lớp tín ngưỡng văn hoá. Hội xuống đồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tày có nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật… Hội xuống đồng còn là động lực phát triển văn hoá trong xã hội nông nghiệp cổ truyền.
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xã Đất Mũi là đơn vị hành chính cuối cùng ở cực Nam Tổ quốc, cách trung tâm tỉnh Cà Mau hơn 110 km. Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Mùa xuân ở vùng đất này không chỉ có sắc mai vàng mà còn mang theo hương vị mặn mòi của biển cả, mùi thơm của những mẻ cá khô và niềm hy vọng mãnh liệt về sự khởi sắc của quê hương.

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Miền Tây miệt vườn từ lâu đã được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ruộng vườn bạt ngàn, sản vật phong phú. Ở đó, cư dân đã hình thành nên một không gian văn hóa đặc trưng, trong đó Tết Nguyên đán là một nét chấm phá thấm đẫm chất miền Tây sông nước.

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Những ngày cuối năm, khi gió bấc se sắt thổi, khi những mái ngói rêu phong quanh đền Đô trầm mặc trong làn sương mỏng, làng nghề bánh phu thê Đình Bảng (nay thuộc phường Từ Sơn, Bắc Ninh) lại bừng lên nhịp điệu riêng của mùa Xuân. Tết ở vùng đất Kinh Bắc không chỉ hiện diện trong sắc đào phai trước hiên nhà, trong không khí rộn ràng chợ Tết, mà còn lan tỏa từ những gian bếp đỏ lửa, nơi những mẻ bánh phu thê đang lặng lẽ tỏa hương.

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Bánh tráng Cù lao Mây - một đặc sản nổi tiếng của làng nghề có lịch sử hơn 100 năm của xã Lục Sỹ Thành, tỉnh Vĩnh Long. Làng nghề truyền thống này hiện có 71 hộ sản xuất; trong đó, 14 hộ tham gia hợp tác xã với 2 hộ có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Làng nghề hoạt động quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Giữa những bản làng vùng cao của xã Xuân Giang và xã Bản Máy, nơi cộng đồng người La Chí sinh sống lâu đời, nghề dệt truyền thống vẫn được duy trì như một phần tất yếu của đời sống văn hóa. Không ồn ào, không phô trương, nghề dệt tồn tại bền bỉ qua nhiều thế hệ, gắn với quan niệm sống, chuẩn mực đạo đức và bản sắc tộc người.

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Tết của người Dao ở phường Thống Nhất, tỉnh Phú Thọ thường diễn ra vào đầu tháng 12 âm lịch kéo dài đến Tết Nguyên đán với nét đẹp văn hóa dân gian độc đáo và giàu bản sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, tín ngưỡng, phong tục tập quán được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Chiều 31/1, UBND xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Lễ khánh thành nhà Rông văn hóa thôn Kon Rơ Bang 2. Đây là hoạt động nhằm bảo tồn nét văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số Bahnar, bà con có nhà Rông mới để tổ chức lễ hội cùng các hoạt động chung của làng.

Rộn ràng hội Gầu Tào của đồng bào Mông ở Pà Cò

Rộn ràng hội Gầu Tào của đồng bào Mông ở Pà Cò

Lễ hội Gầu Tào dân tộc Mông xã Pà Cò (Phú Thọ) năm 2026 đã được khai mạc ngày 31/1 tại Sân vận động xóm Xà Lính. Đây là sự kiện văn hóa truyền thống có ý nghĩa đặc biệt, mở đầu cho mùa lễ hội đầu Xuân của đồng bào Mông nơi vùng cao, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Nét đẹp đón Tết cổ truyền của người Mường Phú Thọ

Nét đẹp đón Tết cổ truyền của người Mường Phú Thọ

Tết Nguyên đán, còn gọi là Tết Năm mới của đồng bào Mường từ lâu đã trở thành phong tục văn hóa đặc sắc, mang đậm giá trị nhân văn, được cộng đồng người Mường ở Phú Thọ gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Đối với người Mường, đây là cái Tết lớn nhất, quan trọng nhất trong năm, là thời khắc thiêng liêng để con cháu hướng về tổ tiên, đất trời và cầu mong một năm mới an lành, no đủ.

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Trải qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Gia Lai - một tỉnh miền núi, biên giới thuộc khu vực Tây Nguyên đã có những bước chuyển mình rõ nét. Những đổi thay ấy được cảm nhận sinh động qua thực tiễn sản xuất, đời sống của người dân và góc nhìn của những người gắn bó, đồng hành cùng địa phương suốt chặng đường phát triển.

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Sở Dân tộc và Tôn giáo cần kết hợp ứng dụng công nghệ số với trao đổi trực tiếp, giữ liên hệ gần gũi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc, tôn giáo. Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Khởi đã chỉ đạo nội dung trên tại Hội nghị Tổng kết công tác dân tộc và tôn giáo năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 diễn ra sáng 15/1.

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Với quan niệm, Tết là dịp để gia đình, dòng tộc sum họp sau 1 năm lao động vất vả, cũng là dịp để báo với tổ tiên về những thành quả trong cả năm, cầu mong những điều tốt sẽ đến trong năm mới, từ tháng 11 - 12 Âm lịch hàng năm, khắp các bản làng người Dao xứ Thanh lại cùng nhau ăn "Tết năm cùng".

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Giữa nhịp sống hối hả của kỷ nguyên công nghệ, tại Quảng Ngãi, những người thợ dệt vẫn chọn cách “đón Tết” bằng nhịp điệu thong dong của khung cửi. Với họ, mỗi tấm chiếu, mỗi dải thổ cẩm không chỉ là món hàng, mà là “tờ lịch” ghi dấu sự chuyển mình của mùa Xuân.