Hội xuống đồng của người Tày

Hội xuống đồng của người Tày
Đêm 30 Tết, khi gà gáy canh một, đại diện các dòng họ cùng ông mo làm lễ rước nước thiêng về bản. Nước được chọn lấy ở nơi mạch nước đang tuôn chảy đầu nguồn suối “Him đón”. Trong tiếng chuông rộn rã đôi nam nữ thận trọng khiêng quả bầu lớn đựng nước nguồn về làng. Quả bầu đựng còn được trịnh trọng đặt lên bàn cúng của ông mo. Bên cạnh bàn thờ, ông mo còn xếp một cuộn dây mây to dùng để kéo co. Sáng ngày mở hội, ông mo được một đoàn người đánh chiêng rước xuống đồng làm lễ. Đi đầu là người đánh chiêng, hai người thổi kèn loa gỗ, theo sau là ông mo, đôi nam nữ bê mâm cúng của ông mo và khiêng bầu nước nguồn, một đôi nam nữ khiêng cuộn dây mây kéo co, đi sau cùng là 2 người khiêng trống, vừa đi vừa đánh. Địa điểm mở hội thường diễn ra ở giữa cánh đồng, gần bờ suối.

Ở làng Làn, huyện Văn Bàn, giữa cánh đồng dựng một giàn cúng bằng tre, nứa cao khoảng 1,2m rộng 40cm theo hình chữ U. Phần trang trọng nhất (đáy chữ U) là giàn cúng chính đặt ở hướng Đông. Phía sau giàn cúng đan cài những cành lá đao (cây báng họ cau cọ, thường lấy làm bột lương thực, nấu rượu). Mâm cúng của ông mo đặt ở giữa giàn cúng. Trên mâm có bát nước (lấy trong bầu nước thiêng, đáy bát có một đồng bạc trắng), một đĩa xôi đỏ, một đĩa xôi vàng, một con gà nhỏ luộc, một xâu cá nướng, một bát tiết luộc, một con dao nhọn, một bó vải mới dệt. Hình nộm hai con cá làm bằng giấy bản màu vàng, hai con chim cú làm bằng giấy bản màu đỏ, hai chùm hoa bằng hạt gạo rang đầu cắm trên những mảnh bẹ thân chuối để trang trọng trên mâm. Hai bên mâm cúng của thầy mo là hai chùm quả đao. Dưới giàn cúng đặt cuộn dây mây kéo co. Tiếp theo hai bên mâm cúng của thầy mo là mâm cúng của các chức dịch và dân làng, cuối cùng là mâm của những người mới chuyển về bản trong năm. Các mâm cúng của các chức dịch và dân chủ yếu là các món ăn, không có bát nước, con dao, đĩa tiết.

Một hồi chiêng vang lên, lễ cúng mở hội bắt đầu. Thầy mo cung kính đọc lên bài cúng mời thần bản, thần các con suối (nữ thần), thần các ngọn núi (nam thần) về dự lễ cúng. Nội dung các bài cúng cầu mong: lúa tốt như cỏ lau, cỏ lác, hạt to như quả đao không có sâu cắn phá; cá nằm chật suối, chật ao; trâu lợn đầy đàn; gà vịt đầy sân; người người khỏe mạnh, nhà nhà đông con, bản thêm nhiều trẻ nhỏ, xóm không người ốm đau…

Cúng xong ở giàn cúng chính, thầy mo lại trịnh trọng đến cúng ở cột cây còn. Cây còn là một cây mai dài khoảng 20m, có lá ngọn uốn cong thành hình tròn, đường kính khoảng 40cm (2 gang tay). Một bên hình tròn (phía Đông) dán giấy đỏ tượng trưng cho mặt trời, một bên dán giấy vàng (phía Tây) tượng trưng cho mặt trăng. Thân còn buộc thêm cành lá đao. Dưới gốc còn là một mâm cúng chung của cả bản gồm một con gà trống to luộc, một thủ lợn luộc, xâu cá nướng và hai đĩa xôi màu đỏ, màu vàng, hai quả còn (trong nhồi thóc, hạt bông, cát) có tua màu đỏ. Sau khi cúng xong, thầy mo tung cao hai quả còn cho các chàng trai tranh cướp đầy náo nhiệt vui vẻ. Chàng trai nào cướp được quả còn của ông mo đầu tiên, cũng là người đầu tiên ném còn, mở đầu cuộc vui ném còn. Các quả còn liên tiếp bay lên hạ xuống hai bên nam và nữ. Chàng trai ném quả còn qua phông còn cho các thiếu nữ bắt, các thiếu nữ tung còn cho các chàng trai. Ai cũng náo nức ném trúng phông còn. Và quả còn ném trúng phông còn sẽ được ông mo rạch ra, lấy hạt bông, hạt thóc trộn với thúng thóc rang tung lên đám đông người dự hội. Mọi người chen lấn, xô đẩy nhau, đưa vạt áo ra hứng cho bằng được một ít hạt thóc rang, mong nhận được phần nhiều.

Hết trò ném còn là trò kéo co. Lúc đầu kéo co còn mang tính chất nghi lễ, thường chia làm các phe như phe của các gia đình ở phía trên mỏ nước kéo với phe của những gia đình dưới mỏ nước. Đại diện phía thượng nguồn phải giành phần thắng hoặc có nơi thì kéo co giữa đại diện các gia đình phía Tây bản. Tất nhiên phải dành cho phía Đông phần thắng thì năm đó mới được mùa. Nghi lễ kéo co còn diễn ra với hình thức kéo co giữa người già (trên 50 tuổi) và người trẻ (dưới 20 tuổi). Ông mo hướng về phía mặt trời lặn, gõ 3 hồi chiêng, đọc lời khấn: “kéo lấy lúa lấy má, kéo lấy tằm lấy tơ, kéo lấy khoẻ lấy già. Trẻ thì cho được già, già thì cho được khoẻ”. Ông mo vừa hết lời thì cả đoàn kéo co và bên người già giành phần thắng. Tương tự như vậy, nghi lễ kéo co giữa nam và nữ cũng diễn ra sôi nổi. Tất nhiên phần thắng là nữ.

Một số thanh niên nam nữ lại chơi trò chơi đánh én (cầu lông bằng ống trúc cắm 3 chiếc lông gà). Mở đầu trò chơi, ông mo thường đánh cầu với một bà già đông con ở gần cột còn, đứng theo hướng ném còn: Đông – Tây. Về sau phía nam nữ thanh niên đều chọn nơi khuất gió, đánh én cho được thuận lợi. Ai để én rơi sẽ bị vò tai hay phải tặng đối thủ một vật kỷ niệm: túi thổ cẩm, một tấm khăn, thậm chí cả vòng bạc.
 
Nghi lễ cầu phúc, cầu mùa theo phong tục cổ truyền được thực hiện tại sân khấu lễ hội.
Nghi lễ cầu phúc, cầu mùa theo phong tục cổ truyền được thực hiện tại sân khấu lễ hội.

Hết phần kéo co, đánh én mang tính nghi lễ, trống được treo ngay cạnh gốc còn. Một bà già (người phụ nữ đông con trai) trực tiếp đánh trống làm nhịp cho các điệu múa. Theo nhịp điệu của trống, một tốp 12 người (6 nam, 6 nữ) cầm mộc và kiếm ra trình diễn trò múa kiếm. Khi tiếng trống vang “tung” người cầm kiếm phải đâm mũi kiếm vào mộc, người múa buộc phải ưỡn phần thân dưới đưa mộc ra đỡ.

Múa kiếm kết thúc, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên dồn dập, gọi mọi người tay cầm tay nhau vào điệu xoè vòng. Trống ở giữa, vòng xoè quanh trống ngày càng rộng vì ai cũng muốn nắm tay vào vòng xoè.

Hội xuống đồng của người Tày là một lễ hội cầu mùa điển hình. Cả phần lễ lẫn phần hội đều tập trung phản ánh ước nguyện của dân làng là mong ước được mùa, người người khoẻ mạnh, sinh nhiều con cháu. Mục đích chỉ có vậy, nhưng hội xuống đồng tập trung cả một hệ thống tín ngưỡng để phản ánh ước vọng này. Các tín ngưỡng đan xen, hoà nhập vào nhau khó mà tách bạch. Các tín ngưỡng thường bao quanh các yếu tố ảnh hưởng đến nông nghiệp như:  sinh sản, nước, mặt trời, cây lúa.

1. Hội xuống đồng là hội mở đầu một chu kỳ sản xuất, nên nó luôn phản ánh ước mong sinh sản. Sinh sôi nảy nở là yêu cầu hàng đầu của hội, vì vậy tín ngưỡng phồn thực được thể hiện bằng các lễ thức ma thuật, diễn xướng, luôn xuyên suốt các hoạt động lễ hội.

Một số nhà  nghiên cứu đã lý giải trò ném còn là hành động tượng trưng diễn lại ý niệm nam nữ giao phối. Quả còn tượng trưng cho nam tính, ném vào phông còn, phá vỡ phông còn (màng trinh) sẽ được mùa. Quả còn mang nam tính nên trong nghi lễ trao còn, ông mo trao quả còn, để trên mâm cúng (nam tính được nạp thêm năng lượng thiêng) cho các trai tráng. Và tất nhiên, khi ném còn nghi lễ, mở đầu cuộc ném là nam giới, bên nhận còn là nữ giới. Khi ném trúng phông còn, ông mo còn tung hạt giống (có năng lượng thiêng, có sự sinh sản mạnh) cho mọi người tranh cướp. Đó là trao truyền tính chất thiêng của hành động nam nữ giao hợp sang hạt giống, nhằm chia thêm chất thiêng cho thành viên cộng đồng.

Đặc biệt tính phồn thực còn thể hiện rõ nhất ở điệu múa kiếm và mộc ở Văn Bàn. Khi tiếng trống “tùng” trong nhịp trống thì mọi người lại chọc thanh kiếm vào mộc, khi đó người cầm mộc cũng ưỡn nửa thân dưới ra phía trước. Có một số người (kể cả dân bản) đều cho rằng đây là điệu múa kiếm mang tính chất thượng võ. Nhưng thực ra cốt lõi của điệu múa kiếm là diễn tả lại hành động giao hợp. Kiếm là biểu tượng của dương vật, còn mộc là biểu tượng của âm vật. Én cũng là biểu tượng của nam tính (theo tín  ngưỡng cổ của người Tày đăm). Do đó đánh én cũng là hành động giao hoà nam nữ.
 
Nghi lễ xuống đồng với đường cày đầu tiên, mong muốn vạn vật sinh sôi, mùa màng tươi tốt.
Nghi lễ xuống đồng với đường cày đầu tiên, mong muốn vạn vật sinh sôi, mùa màng tươi tốt.

2. Trước đây, thời điểm tổ chức hội xuống đồng vào khoảng tháng 3, tháng 4 Âm lịch, là thời điểm đón những cơn mưa đầu mùa. Về sau do ăn Tết Nguyên đán, hội mới mở vào tháng Giêng. Nước là yếu tố quyết định của nền nông nghiệp ruộng nước, vì vậy dấu vết cầu mưa phản ánh khá đậm nét trong hội xuống đồng.

Nước để cúng trong ngày hội phải là nước nguồn mang tính chất tinh khiết chảy mãi không cạn. Nước được người dân đánh chiêng rước về, đặt trên bản thờ ông mo (thêm phần thiêng). Trong các thần linh về dự hội, bên cạnh những thần núi (nam thần) còn có thần mỏ nước (nữ thần) - biểu hiện của âm dương hoà hợp. Đặc biệt, ngay sau lễ cúng, ông mo còn niệm chú (nhằm tăng chất thiêng) rồi ngậm nước phun 4 hướng. Đó là hành động mô phỏng cầu mưa, mong mưa tưới khắp trần gian. Ngay lúc đó, một hồi trống đổ vang rền như sấm đổ hội, trống bịt da chiêng. Theo Giáo sư Tô Ngọc Thanh (2007), các nhạc cụ thiêng là hiện thân của thần sông. Trong trò kéo co có phần kéo giữa người thượng nguồn và hạ nguồn con suối, đại diện phía thượng nguồn (có mỏ nước) thắng thì năm đó sẽ mưa thuận gió hoà và được mùa: “kéo lên nguồn - nguồn thắng - nước tràn bờ, đầy khe”.

3. Mặt trời cũng là những yếu tố cực kỳ quan trọng, đảm bảo cho lúa được mùa. Do đó tín ngưỡng liên quan đến mặt trời cũng phảng phất trong lễ hội xuống đồng.

Bàn thờ chính sắp các mâm cúng quan trọng nhất (ông mo, các chức dịch…) lại làm ở hướng Đông - hướng mặt trời mọc. Mâm cúng của gia đình nào cũng có 2 đĩa xôi chính: xôi đỏ (tượng trưng cho mặt trời), xôi vàng (tượng trưng cho mặt trăng). Mâm cúng của ông mo đặt ở vị trí trang trọng nhất, màu đỏ gần như là màu chủ đạo: đĩa xôi đỏ to, 2 con chim yến bằng giấy đỏ, đĩa tiết gà màu đỏ… Mâm của ông mo lại đặt trên vuông giấy đỏ. Và phía sau mâm là nền xanh của lá đao rừng. Sắc đỏ nổi trên mâm cúng – mâm cúng lại nằm ở phía Đông, lá đao rừng làm nền xanh, khiến mọi người không khỏi liên tưởng đến hình tượng mặt trời.

Quan sát trò chơi ném còn không khỏi liên tưởng đến tín ngưỡng thờ mặt trời. Một bên phông còn màu đỏ tượng trưng cho mặt trời, quả còn được ném từ Đông sang Tây (hướng đi của mặt trời). Và hình nộm chim én cũng bằng giấy đỏ - biểu tượng của mặt trời cũng bày la liệt trên các mâm cúng. Trò chơi đánh én được mở đầu bằng nghi thức ông mo tung én (biểu tượng của mặt trời) cho bà già theo hướng Đông Tây. Trong trò kéo co, bên thắng cuộc phải là hướng Đông (mặt trời mọc). Ngay vòng xoè quanh cột còn cũng chuyển động từ phải sang trái - chiều chuyển động ảo của mặt trời. Đường vòng trong khép kín này có ý nghĩa là biểu tượng của mặt trời. Hình tượng mặt trời càng trở lên sống động hơn trong lễ hội xuống đồng.
 
Hội xuống đồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tày có nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật…
Hội xuống đồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tày có nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật…

4. Tất cả những tín ngưỡng trên đều nhằm một mục đích mong cây lúa sinh sôi nảy nở. Cây lúa và hạt thóc trở thành hình tượng trung tâm của ngày hội.

Lễ đón ông mo và mâm cúng của ông mo diễn ra trang trọng. Ông mo đi trước, theo sau là người bê mâm cúng và rổ đựng thóc rang thành bỏng, thóc rang hoặc ngô rang là biểu tượng của hạt giống, nó còn được tiếp nhận năng lượng thiêng liêng vì được đặt trên bàn thờ nhà ông mo. Hạt giống thiêng này sau đó sẽ được phân phát cho mọi người thành viên qua nghi thức quãi hạt giống, nhằm gieo giống cho mọi người gặt hái mùa màng tốt tươi (như đã trình bày). Một điều đặc biệt nữa là gần bàn thờ ông mo, bên cạnh rổ đựng hạt giống là chùm quả đao. Ông mo khi cúng cũng khấn câu “Mong hạt lúa to như quả đao”. Tại sao lại như vậy?

Cây đao, người Việt gọi là cây báng, một loại cây thuộc họ cau cọ. Đó là loại cây lương thực của người Tày. Đồng bào thường lấy bột cây đao trộn với cơm hoặc nấu rượu. Có thể trước khi tìm ra lúa, người Tày sống chủ yếu nhờ vào bột đao. Sau này tuy có lúa, họ vẫn không quên cây đao và cây đao đã đi vào hội xuống đồng như một loại cây thiêng phù hộ cho lúa, truyền năng lượng thiêng cho lúa. Lễ hội xuống đồng còn hé mở cả lịch sử tiền nông nghiệp của người Tày. Lịch sử kinh tế tái hiện mà cây đao là đại diện.

Cây còn còn là biểu tượng của cây lúa thiêng – cây vũ trụ nối đất trời (âm – dương). Hai bên trai gái (âm – dương) ném còn. Trao quả còn cũng là hình tượng âm dương hoà hợp. Và ngay phông còn dán mặt đỏ (mặt trời, dương) mặt vàng (mặt trăng, âm) cũng phản ánh mối quan hệ như vậy. Quan niệm âm dương hoà hợp sẽ mưa thuận gió hoà, được mùa. Cây lúa thiêng sẽ sinh sôi nảy nở và càng được tăng thêm năng lượng thiêng nhờ thân cây buộc cành lá đao “Cây lúa mẹ sẽ truyền thêm năng lượng thiêng cho cây lúa có quả to như quả đao”.

5. Trong hội xuống đồng có sinh hoạt xoè vòng. Trống xoè treo ngay ở cột còn. Cây còn trở thành trung tâm điểm. Đội hình múa quanh cột còn là đội hình hướng tâm. Nguồn gốc của nó là những sinh hoạt cộng đồng quanh đống lửa thời xa xưa. Mặt khác đường vòng này không chỉ được tạo bởi đội hình múa mà chúng còn là một đường vòng của âm thanh trống chiêng. Từ tâm điểm là cột còn, tiếng trống sẽ lan truyền ra xung quanh. Bao bọc bên ngoài đội hình múa hướng tâm lại là vòng tròn dân làng xem hội.

Có thể ngày xưa xã hội còn mang tính chất dân chủ cộng đồng, cây còn mới là trung tâm tiếp nhận năng lượng thiêng của ngày hội. Từ tâm điểm này (cây còn) năng lượng thiêng lan toả đều, chia cho mọi thành viên. Tính dân chủ cộng đồng được đề cao. Mọi người đều bình đẳng đón nhận năng lượng thiêng. Về sau xã hội phân hoá, vị trí năng lượng thiêng từ cây còn chuyển sang bàn thờ (giàn cúng hình chữ U). Nhưng ở đây tính chất bình quân, bình đẳng không còn nữa. Vị trí trang trọng nhất có khả năng nhận năng lượng thiêng liêng lớn nhất là phần đáy chữ U – nơi đặt bàn thờ của ông mo theo hướng mặt trời mọc. Sau mâm cúng của ông mo, đến mâm cúng của các gia đình chức sắc, người dân của bản và cuối cùng mới đến các gia đình ngụ cư. Năng lượng thiêng không chia đều mà mang tính chất “đặc quyền, đặc lợi” cho một số người.

Hội xuống đồng - như một bể trầm tích các lớp tín ngưỡng văn hoá. Hội xuống đồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tày có nhiều giá trị về dân tộc học, nhân văn, nghệ thuật… Hội xuống đồng còn là động lực phát triển văn hoá trong xã hội nông nghiệp cổ truyền.
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.