Lễ hội Nàng Hai của dân tộc Tày

Trong khuôn khổ các hoạt động Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), đồng bào dân tộc Tày đến từ tỉnh Cao Bằng đã tái hiện lễ hội Nàng Hai, một trong những văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của dân tộc mình.

Theo tín ngưỡng dân gian của người Tày, trên cung trăng có Mẹ Trăng và các nàng tiên. Mẹ Trăng cùng các nàng tiên hằng năm chăm lo bảo vệ mùa màng cho dân chúng. Lễ hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượng trưng cho hành trình lên trời đón Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống vui hội trần gian, thăm thú ruộng đồng, nhà cửa, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và giúp trần gian trong công việc làm ăn sinh sống, phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, sinh sôi nảy nở.

DSC00222.JPG
Thầy Tào, Mẻ Cốc, Cường, Sở và các mụ nàng, mụ nọi và hai thanh niên thực hành nghi lễ. Ảnh: Hoàng Tâm

Ngoài ý nghĩa là một lễ hội cầu mùa lớn, lễ hội Nàng Hai còn phản ánh tục thờ Mẹ trong tín ngưỡng của người Tày. Người Tày có tục thờ Mẻ Bjoóc (Mẹ Hoa) và các nghi lễ gắn với quá trình sinh nở của người phụ nữ. Thế giới của Mẹ Hoa được thần tượng hóa như một cái cây, ở đó hoa vàng sẽ kết ra con trai, hoa bạc sẽ kết ra con gái... Xuất phát từ các quan niệm truyền thống về người Mẹ, kết hợp với quan niệm dân gian coi mặt trăng là chủ thể về thái âm (nữ tính) mà người Tày đã gắn trăng với vai trò của người mẹ lớn cai quản trần gian về nhiều việc, nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Vì thế trong thần thoại của người Tày, Nàng trăng chính là con gái Vua trời, được cha giao cho trông coi công việc nhà nông ở cõi trần gian.

DSC00204.JPG
Lễ vật cúng ở nhà Nàng Hai. Ảnh: Hoàng Tâm

Đồng bào Tày chọn một bãi đất phẳng, rộng rãi làm nơi mở hội. Trên bãi căng vải dựng rạp gọi là trại mẻ mành. Nơi Nàng Hai ngồi làm lễ đặt ở trung tâm sân có lợp vải hoa và trải chiếu hoa. Trại mẻ mành dựng bằng cọc, trên lợp vải hoa quây thành hình chữ U bao quanh sân hội. Đầu bản và cuối bản dựng cổng chào lớn để đón khách. Các gia đình trong bản chuẩn bị các mâm cỗ mặn gồm các món ăn truyền thống để đón khách đến chơi hội và để thi trong ngày tổ chức lễ hội.

z5191144557267_13d75bee003a84cb512e0e95153516b3.jpg
Bánh trăng và hạt giống trong lễ cúng. Ảnh: Hoàng Tâm

Tham gia Lễ hội là Mẻ Cốc, Cường, Sở và các mụ nàng, mụ nọi, thầy Tào và thêm hai thanh niên khỏe mạnh làm khủ tiến có nhiệm vụ đi trước dẹp đường cho đoàn người hành lễ. Cường mặc áo vàng chít khăn vàng, Sở mặc áo đỏ chít khăn đỏ. Mẻ Cốc mặc áo dài chàm; các mụ nàng, mụ nọi mặc áo dài chàm đầu buộc dải lụa đỏ hoặc vàng. Hai khủ tiến mặc quần áo dân tộc, một người thắt khăn vàng, một người thắt khăn đỏ.

DSC00066.JPG
Thày Tào thực hiện nghi lễ trong lễ cúng. Ảnh: Hoàng Tâm

Dụng cụ chính gồm quạt giấy để múa, 2 bộ quần áo dài cũ (tượng trưng cho quần áo của người trần gian); 2 cành trúc dài trên ngọn có treo túi vải màu đựng trầu gọi là cỗ tiến; Thuyền gỗ: 7 cái (1 thuyền to và 6 thuyền nhỏ), một số thuyền hoa chuối.

DSC00271.JPG
Nàng Hai được mời nhập vào Cường, Sở. Ảnh: Hoàng Tâm

Lễ dâng cúng ở nhà Nàng Hai gồm có 3 mâm xôi màu tím (1 mâm của Mẹ Cốc, 2 mâm của hai Nàng Cường, Sở), 2 bồ đựng thóc giống, cây giống, 2 đĩa bánh quánh to (bánh nàng hai - làm bằng gạo nếp), 2 dậu thúc théc, 1 ngọn mía,1 sào hoa rừng (15 bó).

Lễ cúng thổ công gồm có 1 mâm xôi màu, 1 con gà luộc, 1 chai rượu.

DSC00304.JPG
Nàng Hai đã được nhập vào Cường, Sở. Ảnh: Hoàng Tâm

Lễ phá nhà Nàng Hai được tiến hành như sau: Sáng sớm Mẻ Cốc, Cường, Sở và các mụ nàng, mụ nọi, khủ tiến tập trung tại nhà Nàng Hai làm lễ. Sau khi thắp hương, Mẻ Cốc và các mụ nàng, mụ nọi sẽ hát khúc cầu nguyện mời Nàng Hai nhập vào Cường, Sở. Khi Nàng Hai đã nhập xong, hai nàng đứng dậy khoác áo cũ, đi giầy, treo hai túi đựng trầu lên ngực chuẩn bị rời khỏi chiếu ngồi. Mọi người thu dọn hoa và các đồ lễ để đưa ra sân hội (trại mẻ mành). Mẻ Cốc cầm ngọn mía đi đầu tiếp theo đến người cầm bát hương Nàng Hai, khủ tiến đi hai bên, lần lượt đến Cường, Sở và các mụ nàng, mụ nọi, vừa đi vừa hát khúc từ biệt. Đoàn người đi vòng quanh nhà Nàng Hai ba vòng, vừa đi vừa rung đổ nhà, kết thúc lễ phá nhà Nàng Hai.

DSC00298.JPG
Nàng Hai đã xuống và chào mọi người. Ảnh: Hoàng Tâm

Sau khi làm lễ phá nhà Nàng Hai, cả đoàn người có khủ tiến dẫn đầu đi ra miếu thổ công tạ lễ. Tại miếu thổ công, thầy tào làm chủ lễ xin âm dương xin phép mở hội và tiễn nàng Hai về trời. Đoàn người đến trước miếu hát khúc tạ ơn và chào thổ công. Sau đó đi ra trại mẻ mành. Sau đó thầy Tào ra trại mẻ mành làm phép cắm thẻ 4 góc sân hội để trừ tà cho lễ hội.

DSC00346.JPG
Trại mẻ mảnh được dưng lên để các mẹ và các nàng Trăng đi qua khi làm lễ. Ảnh: Hoàng Tâm

Tại lán Nàng Hai trong trại mẻ mành, mở đầu là nghi thức lễ mời Nàng Hai. Tiếp theo là nghi lễ “mời sluông”: Tất cả cùng hát khúc mời sluông vật quạt thật mạnh để sluông nhập vào Cường và Sở. Tiếp theo đến phần “Lên đường” cũng hát như nghi thức hàng đêm. Lúc này chia thành hai nhóm, một nhóm ngồi hát còn một nhóm do Mẻ Cốc dẫn đầu gồm khủ tiến, hai nàng Cường, Sở, các mụ nàng, mụ nọi cầm quạt múa sluông chầu đi vòng quanh trại mẻ mành. Sau khi thực hiện xong các điệu múa đoàn người ngồi xuống chiếu trong lán Nàng Hai để hát khúc lượn slương. Dọn đồ tế lễ lên thuyền phần này được thực hiện qua nội dung lời hát. Lễ khao hoa hát mời tất cả các mẹ trăng về dự hội dưới trần gian do Nàng Hai tổ chức. Kết thúc lễ hội hát khúc lễ tạ và hát khúc thu dọn sân hội.

DSC00429.JPG
Nghi lễ xung quanh lều Trăng để tiễn nàng Hai về trời. Ảnh: Hoàng Tâm

Mẻ Cốc cầm 3 nén hương, 1 nén cắm vào ống hương, 2 nén còn lại dắt lên đầu Cường và Sở. Đoàn người làm lễ lần lượt dứng dậy múa hát bài nhận cỗ. Cường và Sở buộc chiếc áo cũ lên ngang người, các nam nữ thanh niên dọn dẹp đồ lễ và bàn thờ.

Lễ gieo hạt: Cường và Sở cầm bồ hạt giống, cây giống vãi tung ra xung quanh sân hội. Mọi người vẫn hát hối thúc. Lễ phá bỏ trại mẻ mành Mẻ cốc cầm ngọn mía dẫn đường Cường và Sở đi vòng quanh nhà Nàng Hai ba vòng vừa đi vừa xô đổ nhà. Sau đó đoàn người đi vòng quanh trại mẻ mành xô đổ toàn bộ.

Lễ tiễn Nàng Hai: Tiếp theo đoàn người vừa hát vừa rời sân hội đi ra bờ suối làm lễ thả thuyền tiễn Nàng Hai rời trần gian. Toàn bộ đồ cúng lễ của Nàng Hai được đem ra bờ suối và sắp đặt như sau Bát hương nàng Hai đi trước, tiếp theo Thuyền lớn và dãy thuyền nhỏ, toàn bộ hoa rừng. Thầy Tào sẽ hành lễ cắm thẻ yểm tà khí. Đoàn người đến trước nơi đặt lễ hát khúc chia tay. Nàng Hai chia tay với các mụ nàng, mụ nọi, xé quạt chia cho các nàng. Lễ tiễn nàng Hai là cuộc chia tay quyến luyến giữa các nàng Hai với các mẹ Trăng và trần gian qua lời đối đáp dặn dò giữa Nàng Hai và các mụ nàng, mụ nọi, kết thúc bằng lễ thả thuyền, thả hoa.

DSC00022.JPG
Nghi lễ ngắm thuyền trăng. Ảnh: Hoàng Tâm

Cuối cùng là hú gọi hồn Mẻ Cốc và hồn Cường, Sở. Lúc này tất cả mọi người cùng hát, vật quạt thật mạnh để hối thúc hồn Nàng Hai xuất khỏi Cường và Sở. Thầy Tào làm phép thu lại hồn vía cho các Nàng. Lễ hội kết thúc.

z5191146258703_7aad191a1c73ab59ba0bee3954d979fd.jpg
Các điệu múa quạt tiễn đưa nàng Trăng quanh trại mùng mành. Ảnh: Hoàng Tâm

Trong lễ hội, ngoài các thủ tục đón tiễn đưa Nàng Hai, những điệu hát du dương làm say đắm người nghe thì phải kể đến những điệu múa của Nàng Hai và các mụ nàng, mụ nọi. Các điệu múa sử dụng trong lễ hội tuy không nhiều nhưng có vai trò nhất định tạo nên không khí cuốn hút của ngày hội.

DSC00517.JPG
Nghi thức vãi hạt giống trong lễ hội Nàng Hai để cầu mong mùa màng bội thu. Ảnh: Hoàng Tâm

Với lễ hội Nàng Hai, phần múa quạt và xem thuyền là một nghi lễ chính của lễ hội nhằm diễn tả đoàn người trần gian đưa lễ vật lên mường trời. Quạt được sử dụng làm đạo cụ chính trong khi diễn. Múa quạt do các mụ nàng, mụ nọi làm sluông tiến lễ vừa hát vừa thực hiện. Các điệu múa được sử dụng trong lễ hội đơn giản, mọi người có thể múa được dễ dàng, bao gồm 5 điệu múa: Múa quét, Múa cầu mùa, Múa chèo thuyền, Múa gập một nửa quạt, Múa gập quạt hoàn toàn.

DSC00559.JPG
Đoàn tiễn thả thuyền đưa Nàng Hai về trời. Ảnh: Hoàng Tâm

Mỗi điệu múa quạt đều quy định phải đi ba vòng quanh trại mùng mành, bắt đầu đi từ bên trái. Mẻ Cốc đi trước vừa đi vừa hát, khủ tiến cầm ngọn mía đi dẹp đường, tiếp đến là đội quân áo vàng của Cường và sau cùng là đội quân áo đỏ của Sở. Hình thức múa đơn giản nhưng có tính biểu đạt cao khiến nguời ta liên tưởng đến những nàng tiên trên trời với những đôi cánh tiên đã đi vào trong truyện cổ tích.

DSC00568.JPG
Nàng Hai đã về trời và xuất ra khỏi Cường và Sở. Lễ hội kết thúc tốt đẹp với hy vọng một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu đến với bà con đồng bào dân tộc Tày. Ảnh: Hoàng Tâm

Lễ hội Nàng Hai thể hiện tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc Tày để cầu mong mưa thuận gió hòa, đoàn kết và tôn trọng giữa những người cùng trong cộng đồng, đó là nét ứng xử rất văn hóa của người Tày cần được giữ gìn, phát huy và trao truyền cho thế hệ mai sau.

Hoàng Tâm

(Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xã Đất Mũi là đơn vị hành chính cuối cùng ở cực Nam Tổ quốc, cách trung tâm tỉnh Cà Mau hơn 110 km. Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Mùa xuân ở vùng đất này không chỉ có sắc mai vàng mà còn mang theo hương vị mặn mòi của biển cả, mùi thơm của những mẻ cá khô và niềm hy vọng mãnh liệt về sự khởi sắc của quê hương.

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Miền Tây miệt vườn từ lâu đã được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ruộng vườn bạt ngàn, sản vật phong phú. Ở đó, cư dân đã hình thành nên một không gian văn hóa đặc trưng, trong đó Tết Nguyên đán là một nét chấm phá thấm đẫm chất miền Tây sông nước.

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Những ngày cuối năm, khi gió bấc se sắt thổi, khi những mái ngói rêu phong quanh đền Đô trầm mặc trong làn sương mỏng, làng nghề bánh phu thê Đình Bảng (nay thuộc phường Từ Sơn, Bắc Ninh) lại bừng lên nhịp điệu riêng của mùa Xuân. Tết ở vùng đất Kinh Bắc không chỉ hiện diện trong sắc đào phai trước hiên nhà, trong không khí rộn ràng chợ Tết, mà còn lan tỏa từ những gian bếp đỏ lửa, nơi những mẻ bánh phu thê đang lặng lẽ tỏa hương.

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Bánh tráng Cù lao Mây - một đặc sản nổi tiếng của làng nghề có lịch sử hơn 100 năm của xã Lục Sỹ Thành, tỉnh Vĩnh Long. Làng nghề truyền thống này hiện có 71 hộ sản xuất; trong đó, 14 hộ tham gia hợp tác xã với 2 hộ có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Làng nghề hoạt động quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Giữa những bản làng vùng cao của xã Xuân Giang và xã Bản Máy, nơi cộng đồng người La Chí sinh sống lâu đời, nghề dệt truyền thống vẫn được duy trì như một phần tất yếu của đời sống văn hóa. Không ồn ào, không phô trương, nghề dệt tồn tại bền bỉ qua nhiều thế hệ, gắn với quan niệm sống, chuẩn mực đạo đức và bản sắc tộc người.

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Tết của người Dao ở phường Thống Nhất, tỉnh Phú Thọ thường diễn ra vào đầu tháng 12 âm lịch kéo dài đến Tết Nguyên đán với nét đẹp văn hóa dân gian độc đáo và giàu bản sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, tín ngưỡng, phong tục tập quán được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Chiều 31/1, UBND xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Lễ khánh thành nhà Rông văn hóa thôn Kon Rơ Bang 2. Đây là hoạt động nhằm bảo tồn nét văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số Bahnar, bà con có nhà Rông mới để tổ chức lễ hội cùng các hoạt động chung của làng.

Rộn ràng hội Gầu Tào của đồng bào Mông ở Pà Cò

Rộn ràng hội Gầu Tào của đồng bào Mông ở Pà Cò

Lễ hội Gầu Tào dân tộc Mông xã Pà Cò (Phú Thọ) năm 2026 đã được khai mạc ngày 31/1 tại Sân vận động xóm Xà Lính. Đây là sự kiện văn hóa truyền thống có ý nghĩa đặc biệt, mở đầu cho mùa lễ hội đầu Xuân của đồng bào Mông nơi vùng cao, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Nét đẹp đón Tết cổ truyền của người Mường Phú Thọ

Nét đẹp đón Tết cổ truyền của người Mường Phú Thọ

Tết Nguyên đán, còn gọi là Tết Năm mới của đồng bào Mường từ lâu đã trở thành phong tục văn hóa đặc sắc, mang đậm giá trị nhân văn, được cộng đồng người Mường ở Phú Thọ gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Đối với người Mường, đây là cái Tết lớn nhất, quan trọng nhất trong năm, là thời khắc thiêng liêng để con cháu hướng về tổ tiên, đất trời và cầu mong một năm mới an lành, no đủ.

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Trải qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Gia Lai - một tỉnh miền núi, biên giới thuộc khu vực Tây Nguyên đã có những bước chuyển mình rõ nét. Những đổi thay ấy được cảm nhận sinh động qua thực tiễn sản xuất, đời sống của người dân và góc nhìn của những người gắn bó, đồng hành cùng địa phương suốt chặng đường phát triển.

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Sở Dân tộc và Tôn giáo cần kết hợp ứng dụng công nghệ số với trao đổi trực tiếp, giữ liên hệ gần gũi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc, tôn giáo. Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Khởi đã chỉ đạo nội dung trên tại Hội nghị Tổng kết công tác dân tộc và tôn giáo năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 diễn ra sáng 15/1.

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Với quan niệm, Tết là dịp để gia đình, dòng tộc sum họp sau 1 năm lao động vất vả, cũng là dịp để báo với tổ tiên về những thành quả trong cả năm, cầu mong những điều tốt sẽ đến trong năm mới, từ tháng 11 - 12 Âm lịch hàng năm, khắp các bản làng người Dao xứ Thanh lại cùng nhau ăn "Tết năm cùng".

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Giữa nhịp sống hối hả của kỷ nguyên công nghệ, tại Quảng Ngãi, những người thợ dệt vẫn chọn cách “đón Tết” bằng nhịp điệu thong dong của khung cửi. Với họ, mỗi tấm chiếu, mỗi dải thổ cẩm không chỉ là món hàng, mà là “tờ lịch” ghi dấu sự chuyển mình của mùa Xuân.

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Nằm giữa vùng sơn cước, bản Bắc Hoa, xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đang từng bước chuyển mình từ một bản làng thuần nông trở thành điểm đến du lịch cộng đồng giàu bản sắc. Với hệ thống nhà cổ, đời sống văn hóa truyền thống của đồng bào Nùng còn được gìn giữ khá nguyên vẹn, cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, Bắc Hoa được kỳ vọng sẽ trở thành điểm nhấn mới trong phát triển du lịch văn hóa, sinh thái của tỉnh.

Lễ mừng cơm mới của đồng bào dân tộc Thái ở Phú Thọ

Lễ mừng cơm mới của đồng bào dân tộc Thái ở Phú Thọ

Giữa nhịp sống hiện đại, ở những bản làng người Thái vùng Mai Châu, lễ cơm mới vẫn được gìn giữ như một nét văn hóa thiêng liêng gắn với vòng quay mùa vụ. Mỗi khi lúa chín, thóc đầy bồ, bà con lại háo hức chuẩn bị mâm lễ để tạ ơn trời đất, tổ tiên đã phù hộ cho một vụ mùa bội thu. Qua từng nghi thức, lễ cơm mới không chỉ là ngày mừng mùa mà còn là dịp để các thế hệ người Thái tiếp nối, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Gắn bó mật thiết với nương rẫy và núi rừng Tây Bắc, đồng bào dân tộc Khơ Mú từ bao đời nay vẫn gìn giữ nghi thức thu thóc cầu mùa bội thu như một sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng quan trọng. Không chỉ thể hiện niềm tin vạn vật hữu linh, Lễ cầu mùa còn là dịp để cộng đồng bày tỏ lòng biết ơn trời đất, tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng no ấm và đoàn kết.

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Nép mình nơi ngã ba sông ở đầu nguồn châu thổ Cửu Long, nơi dòng nước mát lành của sông Hậu và sông Châu Đốc cùng in bóng những thánh đường Hồi giáo cổ kính hòa quyện tiếng đọc kinh Quan âm vang như nhịp đập của xóm người Chăm, nghề dệt thổ cẩm truyền thống theo đạo Hồi giáo Islam ở An Giang đã và đang được hồi sinh mạnh mẽ dưới đôi tay của những người phụ nữ xóm Chăm ở ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc bản địa, gắn với phát triển du lịch cộng đồng, Lễ cầu hôn (Lễ ăn hỏi) truyền thống của người Jrai vừa được phục dựng tại làng Ơp, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai. Lễ phục dựng không chỉ tái hiện sinh động một nghi lễ tiêu biểu trong đời sống hôn nhân của người Jrai theo chế độ mẫu hệ, mà còn góp phần giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân bản địa trên cao nguyên Gia Lai đến với du khách.

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Ngày 1/1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), diễn ra hoạt động tái hiện Lễ cưới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đang hoạt động tại Làng. Lễ cưới không chỉ thể hiện tập quán truyền thống của các dân tộc vùng Trường Sơn Tây Nguyên: đồng bào dân tộc Xơ Đăng, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Ba Na, Tà Ôi, Cơ Tu khi trai, gái đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình mà còn là một ngày hội gắn kết cộng đồng trong buôn làng.