Ngọt ngào nghề làm đường thốt nốt của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi

Trải qua thăng trầm của thời gian, nghề làm đường thốt nốt của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi An Giang không chỉ đơn thuần là sinh kế bền vững mà đã hóa thân thành một biểu tượng văn hóa đặc sắc.

thot-not-11326-11.jpg
Những cánh rừng thốt nốt bạt ngàn ở vùng Bảy Núi, An Giang.

Nằm ở miền biên viễn Tây Nam của Tổ quốc, vùng Bảy Núi của tỉnh An Giang không chỉ là miền đất của những huyền thoại hùng vĩ mà còn là nơi lưu giữ những tinh hoa văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer. Giữa bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, hình ảnh những hàng thốt nốt vươn cao, tạc vào nền trời xanh thẳm đã trở thành biểu tượng kiêu hãnh của sự sống và sức mạnh bản địa. Cây thốt nốt - một loài cây hoang dại, qua bàn tay tài hoa của con người đã kết tinh thành những giọt mật ngọt ngào, trở thành một di sản ẩm thực độc bản, khẳng định giá trị riêng biệt của mảnh đất An Giang.

Tinh hoa của trời đất

Cây thốt nốt (tên khoa học là Borassus Flabellifer) từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống của cư dân vùng Nam Á và Đông Nam Á. Tại Việt Nam, thốt nốt quần tụ đông đúc nhất ở vùng Bảy Núi, thuộc địa bàn các xã Cô Tô, Tri Tôn, Ô Lâm, Núi Cấm, An Cư, các phường Chi Lăng, Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Với đồng bào Khmer nơi đây, đường thốt nốt không đơn thuần là một sản vật nông nghiệp mà chính là “tinh hoa của trời đất”. Bởi lẽ, từng hạt đường vàng óng, thơm dịu đều thấm đẫm nắng gió khắc nghiệt và dưỡng chất từ lòng đất vùng biên viễn Tây Nam.

thot-not-11326-12.jpg
Để thu lấy được nước thốt nốt, người thợ phải leo lên trên ngọn cây cao hơn 15m, rồi dùng dao sắc cắt đầu ngọn bông để mật hoa ứa ra, chảy vào ống tre hoặc chai nhựa treo sẵn. Đều đặn mỗi ngày hai lần, người thợ phải leo lên để đổi bình và cắt tỉa lại cuống bông, duy trì dòng chảy cho đến khi bông cạn mật...

Quy trình tạo ra đường thốt nốt - thức quà đặc sản của vùng Bảy Núi An Giang này là một bản giao hưởng giữa sức lao động bền bỉ và sự nhạy bén của các giác quan. Mùa nấu đường thốt nốt thường bắt đầu từ tháng 11 âm lịch - khi những cơn mưa cuối mùa vừa dứt - kéo dài đến tận tháng 6 năm sau. Đây là thời điểm nắng hạn gay gắt nhất, nhưng cũng là lúc nước thốt nốt đạt độ ngọt thanh và sản lượng cao nhất.

Len lỏi qua những con đường nhỏ ở ấp Tà Lọt, khu vực dưới chân Núi Cấm (giáp ranh giữa hai xã Tri Tôn và Núi Cấm, tỉnh An Giang), hương thơm ngọt dịu từ những lò nấu đường thốt nốt quyện trong mùi lúa chín nồng nàn. Những hàng thốt nốt vươn mình kiêu hãnh giữa thinh không như tạc vào nền trời An Giang một dấu ấn riêng biệt, khẳng định sức sống và nét đẹp trù phú của dải đất phía Tây Nam của Tổ quốc.

Sau công đoạn lọc sạch tạp chất, nước thốt nốt tươi được đưa vào chảo lớn, đun liên tục từ 3 đến 4 giờ đồng hồ. Quá trình nấu đường thốt nốt, người nấu phải khuấy liên tục và vớt lớp bọt lẫn những tạp chất cho đến khi hơi nước bên trong đường bốc hơi và đường cô đặc lại thì mới ngừng.

Sau công đoạn lọc sạch tạp chất, nước thốt nốt tươi được đưa vào chảo lớn, đun liên tục từ 3 đến 4 giờ đồng hồ. Quá trình nấu đường thốt nốt, người nấu phải khuấy liên tục và vớt lớp bọt lẫn những tạp chất cho đến khi hơi nước bên trong đường bốc hơi và đường cô đặc lại thì mới ngừng.

Anh Chau Sanh (ngụ xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) cho biết, cứ khoảng 5 giờ hằng ngày, khi sương còn bảng lảng, anh đã bắt đầu cuộc hành trình quen thuộc. Với bộ đồ nghề giản đơn gồm kẹp gỗ và chai nhựa, anh men theo lối mòn ra cánh đồng để "chinh phục" những cây thốt nốt cao vút trên 15m.

Theo anh Chau Sanh, để chạm đến dòng mật ngọt ngào, người thợ phải thực hiện một cuộc chinh phục độ cao đầy mạo hiểm. Những thân cây thốt nốt vươn thẳng tắp lên bầu trời, có cây cao tới 20m. Để leo lên, họ tận dụng những thân tre dài, nhiều nhánh cột chặt vào thân cây làm thang tự chế.

Khác với lầm tưởng của nhiều người, nước thốt nốt không lấy từ trái mà được chắt chiu từ bôn. “Đây là một quy trình đòi hỏi sự khéo léo và kiên nhẫn. Người thợ dùng kẹp gỗ “vuốt ve” bông thốt nốt để đánh thức dòng nhựa sống, rồi dùng dao sắc cắt đầu ngọn bông để mật hoa ứa ra, chảy vào ống tre hoặc chai nhựa treo sẵn. Đều đặn mỗi ngày hai lần, người thợ phải leo lên để đổi bình và cắt tỉa lại cuống bông, duy trì dòng chảy cho đến khi bông cạn mật”, anh Chau Sanh chia sẻ.

Nước thốt nốt sau khi thu hoạch phải được nấu ngay để tránh bị chua.

Nước thốt nốt sau khi thu hoạch phải được nấu ngay để tránh bị chua.

Theo anh Chau Sanh, cây thốt nốt như một "người bạn tri kỷ", càng già càng hào phóng. Một cây non phải mất khoảng 10 năm mới bắt đầu ra bông, nhưng sản lượng lúc này còn khiêm tốn. Ngược lại, những “cụ” thốt nốt từ 30 đến 40 năm tuổi lại cho trái và nước quanh năm với trữ lượng đường rất cao. Đặc biệt, thời tiết càng nắng nóng, nước thốt nốt càng ngọt và đạt năng suất cao. Trung bình vào mùa nắng, 6 - 7 lít nước sẽ cho ra 1 kg đường thành phẩm.

“Thời tiết càng nắng nóng, nước thốt nốt lại càng nhiều, vị càng ngọt và chất lượng đường nấu ra lại càng hảo hạng”, anh Chau Sanh nhấn mạnh. Theo kinh nghiệm của anh, nước thốt nốt sau khi thu hoạch phải được nấu ngay để tránh bị chua. Sau công đoạn lọc sạch tạp chất, nước được đưa vào chảo lớn, đun liên tục từ 3 đến 4 giờ. Đây là khâu quan trọng nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm dày dạn của người thợ. Họ phải điều tiết lửa linh hoạt, đun lớn khi mới bắt đầu và giảm lửa lúc mật cô đặc để tránh cháy khét.

Đường thành phẩm có màu vàng óng, thơm dịu, thích hợp để làm các loại bánh và chế biến nhiều món ăn.

Đường thành phẩm có màu vàng óng, thơm dịu, thích hợp để làm các loại bánh và chế biến nhiều món ăn.

Sản phẩm cuối cùng là những mẻ đường màu vàng tươi, mịn màng, mang vị ngọt thanh đặc trưng và hoàn toàn thuần tự nhiên. Chính sự mộc mạc, không dùng chất bảo quản đã tạo nên thương hiệu riêng biệt cho đường thốt nốt An Giang.

Không chỉ dừng lại ở sản phẩm đường, cây thốt nốt còn được người dân tận dụng triệt để. Nước thốt nốt dùng làm rượu, mật; trái làm bánh, mứt; trong khi thân và lá trở thành nguyên liệu cho đồ thủ công mỹ nghệ. Nhiều sản phẩm từ loại cây này đã đạt chứng nhận OCOP, trở thành món quà đặc sản không thể thiếu của du khách mỗi khi có dịp ghé thăm vùng đất An Giang.

Giữ hồn văn hóa bản địa

Nghề làm đường thốt nốt của đồng bào dân tộc thiểu số Khmer tỉnh An Giang được công nhân là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2024.

Nghề làm đường thốt nốt của đồng bào dân tộc thiểu số Khmer tỉnh An Giang được công nhân là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2024.

Trải qua thăng trầm của thời gian, nghề làm đường thốt nốt của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi An Giang không chỉ đơn thuần là sinh kế bền vững mà đã hóa thân thành một biểu tượng văn hóa đặc sắc. Mỗi giọt mật ngọt không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn kết tinh từ sự khéo léo, cần cù và tinh thần vượt khó của cư dân vùng biên giới. Giữa nhịp sống hiện đại hối hả, hình ảnh những lò đường nghi ngút khói vẫn lặng lẽ tỏa hương, gợi nhắc về một truyền thống được gìn giữ qua bao thế hệ.

Tiếp nối mạch nguồn ấy, nhiều người trẻ An Giang đã chọn cách trở về, dùng tư duy hiện đại để “đánh thức” sản phẩm truyền thống của quê hương. Tiêu biểu là chị Chau Ngọc Dịu, người dân tộc Khmer (xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) với thương hiệu mật thốt nốt Palmania. Sau nhiều năm lập nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, chị quyết định về quê nhà khởi nghiệp với sản phẩm mật thốt nốt sệt mang thương hiệu Palmania theo chuẩn hữu cơ (Organic). Không dừng lại ở thị trường nội địa, năm 2021, đánh dấu bước ngoặt khi lô hàng đường thốt nốt chính ngạch đầu tiên của vùng Bảy Núi An Giang vượt đại dương sang Hà Lan. Từ “bàn đạp” này, vị ngọt của đường thốt nốt An Giang tiếp tục chinh phục những thị trường khó tính như Thụy Điển, Phần Lan, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc, mang về doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm. Hiện nay, Palmania tự hào sở hữu 3 sản phẩm đạt chuẩn OCOP 5 sao cấp quốc gia cùng hệ sinh thái sản phẩm đa dạng từ nước mật hoa đóng lon đến siro và nước mắm thốt nốt,…

Đường thốt nốt đã trở thành sản phẩm đặc trưng, truyền thống của tỉnh An Giang.

Đường thốt nốt đã trở thành sản phẩm đặc trưng, truyền thống của tỉnh An Giang.

Để đảm bảo nguồn nguyên liệu sạch, ổn định phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước, chị Dịu đã ký kết bao tiêu cho 15 nông hộ với khoảng 300 cây thốt nốt, thu mua khoảng 1.200 lít nước thốt nốt tươi mỗi ngày với giá cao gấp đôi thị trường, đồng thời hỗ trợ cải tiến công nghệ lò nấu cho người dân. Qua đó, không chỉ giúp nông dân các địa phương vùng Bảy Núi An Giang có thu nhập ổn định mà còn có thêm động lực họ để bám trụ với cây thốt nốt – loài cây được ví như “hồn cốt”của vùng đất Thất Sơn hùng vĩ.

Theo ông Nguyễn Khánh Hiệp, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao tỉnh An Giang, toàn vùng Bảy Núi hiện có khoảng 70.000 cây thốt nốt, cung ứng ra thị trường 8.000 tấn đường mỗi năm, tạo việc làm và giá trị kinh tế ổn định cho cộng đồng người Khmer trên địa bàn.

Các sản phẩm đường thốt nốt của Công ty Cổ phần Palmania (xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) đạt chuẩn OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Các sản phẩm đường thốt nốt của Công ty Cổ phần Palmania (xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) đạt chuẩn OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Để nâng tầm giá trị cho cây thốt nốt, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã phê duyệt kế hoạch “Vùng sản xuất, chế biến thốt nốt theo hướng hữu cơ đến năm 2030”. Mục tiêu đến năm 2030 sẽ có ít nhất 500 cây thốt nốt cổ thụ (trên 40 năm tuổi) được khai thác theo quy chuẩn hữu cơ, với 100% sản phẩm được doanh nghiệp liên kết tiêu thụ. Kế hoạch hướng đến việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất hữu cơ đạt chuẩn, đảm bảo lợi nhuận cho người dân cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với phương thức canh tác truyền thống. Qua đó, xây dựng được thương hiệu “thốt nốt hữu cơ An Giang” đủ sức cạnh tranh quốc tế, đồng thời bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang.

Với sự chung tay của chính quyền và người dân, nghề nấu đường thốt nốt của đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang đang từng bước khẳng định vị thế, không chỉ là đặc sản vùng miền mà còn là “sứ giả” mang vị ngọt và hồn cốt của đất và người An Giang vươn xa ra thế giới./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.