Văn hoá gia phả dòng họ của dân tộc M’nông

Văn hoá gia phả dòng họ của dân tộc M’nông
Trong thực tế, người M’nông đã có họ và nhiều họ khác nhau như: R’Chil, Pang Ting, Buôn K’rông, Rlăk (nhánh M’nông Gar); họ Plook, R’lawk, Rang (nhánh M’nông R’lăm); họ Liêng, Liêng hot, K’liêng, Ong (nhánh M’nông Chil)… được lưu truyền trong gia phả dòng họ với hình thức truyền khẩu, đồng bào gọi gia phả dòng họ là Boi Jau, nghĩa là tìm, kể chuyện dòng họ, được diễn đạt theo lối kể văn vần mộc mạc, không có sự hư cấu, trừu tượng, ví von; thường đề cập đến địa danh, con vật, về một sự tích, được sắp xếp trình tự về các thế hệ con cháu nối tiếp nhau, đây là một dòng văn hoá độc đáo tồn tại lâu đời song tồn với văn hoá lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán của dân tộc M’nông. Trước hết, có thể tìm thấy văn hoá dòng họ M’nông được thể hiện qua sử thi M’nông, như là dòng văn hoá "Bách khoa toàn thư". Mọi sự việc diễn ra ở xã hội M’nông cổ đều được phản ánh trong sử thi, mà Boi Jau đã được thể hiện trong sử thi "Kể dòng con cháu mẹ chép" (N’kroch r’noi dech kon sau me chep).
 

Dân tộc M’nông có tập quán thuộc mẫu hệ, nên con sinh ra lấy tên mẹ; sử thi trên có ghi lại người mẹ tên là Puh, nên con của bà có họ như sau:

N’duh kon Puh, Yang Kon Puh, Ting Kon Puh… Qua gia phả dòng họ (Boi Jau) của M’nông thường thể hiện dưới các dạng sau:

Thường gắn với địa danh và tên người đầu tiên cai quản địa danh đó, như đoạn văn sau:

                                    Cây gle của ông Sơ

                                    Cây gle Pan, ông Sơ trồng

                                    Cây r’hách dăm pang de, ông Sơ trồng

                                    Đất ở thung lũng do bà Pang canh giữ

                                    Ông Sơ lấy bà Pang sinh ra ông Tông

                                    Ông Tông lấy bà Bung sinh ra bà Khuăn

                                    Núi N’Jang ông Dong canh giữ

                                    Bà Khuăn lấy ông Dong sinh ra ông Tõh

                                        (Tài liệu của nghệ nhân Điểu Câu)

Ở đây, địa danh đầu tiên là N’jang, người đầu tiên là ông Sơ và bà Pang được xem là ông tổ của một dòng họ và tên người đầu tiên ở địa danh ấy được lấy làm họ cho một dòng họ mãi mãi về sau.

Sau đoạn mở đầu nói về địa danh và người đầu tiên, đoạn văn tiếp theo kể về các đời con cháu sau, thì Boi Jau, kể tình tự ai lấy ai, con cái là ai, cứ nối tiếp như vậy, mang tính liệt kê đầy đủ, như đoạn văn sau:

                                    Ông Lu lấy bà Lum sinh ra Teh, Khuăn, Pla, Lơp

                                    Ông Lơp lấy bà Lăng sinh ra Bo, B’rông, Jang

                                    Ông Jang lấy bà Ngoel sinh ra Gle, Glot, Lot, Boan

                                                               (Tài liệu dẫn trên)

Đôi khi điều cấm kỵ trong thực phẩm, thức ăn, thức uống cũng lấy để làm họ, gắn với họ tên, như câu chuyện về họ K’Pơr nguồn gốc là loại lá rừng; xưa ở một bon nọ có người phụ nữ hái được lá K’Pơr về làm thức ăn cho gia đình, người hàng xóm nghe nói loại lá này quý hiếm, người ăn khỏe mạnh nên đến nài nỉ người phụ nữ chia lại cho, để họ cùng nấu ăn, bà không cho, nhưng sau đó cả nhà người phụ nữ này vì đã ăn lá K’pơr đều bị chết; từ đó người M’nông kiêng kỵ ăn lá K’pơr, và lấy tên K’pơr làm họ cho dòng họ của mình.

Và hầu như nhiều Boi Jau thể hiện dòng họ M’nông đều có điểm chung và nhiều nhất là gắn với tên địa danh như: Bon Ding, Bu P’râng, Bu P’răk, tên họ gắn với con vật như: Pê (con dê) D’rốc (con bò), K’lăn (con trăn). Tên họ gắn với sinh vật như: K’pơr (lá cây) Dâng Ja reh (bãi cỏ tranh), Phai Mur (lúa gạo).

Do điều kiện lịch sử phát triển, xã hội M’nông ngày nay không còn khép kín theo bon, buôn với đôi chục nóc nhà, ở theo họ tộc như xưa mà bon làng của dân tộc M’nông đã có sự đổi thay, từ khép kín đã được mở rộng, hội nhập. Từ chỗ một dòng họ, ngày nay đã nhiều dòng họ; từ chỗ có một dân tộc M’nông giờ đã có nhiều dân tộc và đã được sống xen cư, đa cư, đa dân tộc. Có những bon, buôn có đến 7 dân tộc như: dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường, M’nông, Mông,… và trong quan hệ hôn nhân Nam, Nữ thuộc dân tộc này trở thành vợ hoặc chồng với dân tộc kia, như người cha là dân tộc M’nông, mẹ là người dân tộc Kinh, con sinh ra đều mang theo họ cha, như cha là Điểu Xuân Ân thì tên con là Điểu Xuân Bình, Điểu Xuân Thuận (giới Nam). Trường hợp mẹ là người M’nông, cha là người Kinh thì con lấy theo họ cha; trường hợp cha là người dân tộc Thái (phía Bắc), mẹ là người M’nông thì con không mang họ của cha và mẹ, mà con chỉ lấy tên đệm, như ông Lò Văn Năm và bà H’Mai, con trai là Y’oanh; tình hình hôn nhân ấy làm cho dòng họ M’nông cần có sự ghi chép, quản lý chặt chẽ hơn.

Văn hoá các Boi Jau không chỉ là một dòng văn hoá được truyền khẩu qua nhiều thế hệ, để khẳng định người M’nông cũng như nhiều tộc người khác đã sinh ra là có họ, gia phả dòng họ không chỉ là sự lưu truyền về cội nguồn, họ tộc mà còn là thể loại sinh hoạt trong đời sống tinh thần của cộng đồng người M’nông, mang tính hát kể, một hình thức văn nghệ dân gian; mỗi khi được hát kể, như hát kể sử thi (Ot N’rông) trong những dịp lễ hội, trong gia đình họ tộc để cho con cháu biết, nhớ về cội nguồn, tổ tiên.

Họ tộc M’nông rất phong phú, mỗi nhánh M’nông đều có nhiều họ, có nhánh M’nông có đến hàng chục họ khác nhau. Nhưng trong thực tế, đa số người M’nông trong các loại giấy tờ như khai sinh, căn cước, bằng cấp… không ghi họ mà chỉ ghi tên riêng, và trước tên riêng có kèm theo tên đệm để xác định giới tính như Điểu, Y, K đối với giới Nam; H’, Thị đối với giới Nữ. Do đó, đã dẫn đến không ít người cho rằng, người M’nông không có tên họ, mà thực chất là thiếu sự ghi chép, thất truyền nghiêm trọng trong dòng văn hoá dòng họ (Boi Jau) của dân tộc M’nông và chắc chắn sự thất truyền về dòng họ đã dẫn đến nhiều nhầm lẫn đáng tiếc khác, nhất là sự kết hôn cùng một huyết thống.

Không phải người M’nông không có ý thức sâu sắc về dòng họ, gia phả dòng họ mà do sự biến đổi, phát triển trong xã hội M’nông mang tính đột phá. Có thể thấy, những năm đầu thế kỷ 20, xã hội M’nông đang còn ở thời kỳ kinh tế hái lượm, săn bắt, trồng trọt, chọc tỉa trên nương đồi, sống du canh, du cư, ở chế độ thị tộc lại không có chữ viết. Và cũng trong thời kỳ này, nhiều cuộc khởi nghĩa của đồng bào M’nông do N’Trang Ghư, N’Trang Lơng lãnh đạo chống lại sự xâm lược và áp đặt chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp; những nguyên nhân trên trong nhiều nguyên nhân khác đã dẫn đến sự đứt khoảng về văn hoá, đã làm mất đi tập quán làm gia phả của dân tộc M’nông. Dòng văn hoá gia phả dòng họ được lưu giữ trong trí nhớ của lớp người lớn tuổi, tộc trưởng, người có hiểu biết; nhưng ngày lớp người này nay đã già yếu và có nhiều người đã chết, nên nhiều Boi Jau cũng theo họ xuống nằm dười lòng đất. Cũng như văn hoá sử thi, văn hoá cồng chiêng, nghệ nhân hát sử thi (kể Ot N’rông) ở Đăk Nông năm 2004 còn 30 người, nghệ nhân đánh chiêng 90 người, chưa có thống kê nào về số người chết biết Boi Jau, thì đến nay nghệ nhân kể sử thi chỉ còn không quá 10 người, nghệ nhân cồng chiêng (tấu được 10 bài trở lên) còn không quá 30 người, và chắc chắn người biết Boi Jau cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Trong quá trình phát triển văn hoá xã hội đương đại, chúng ta chưa chú trọng hoặc chú trọng nhưng chưa kịp thời bảo tồn, gìn giữ, đã để dòng văn hoá Boi Jau cũng như nhiều dòng văn hoá khác đã mai một, mất đi một cách nghiêm trọng.

Chúng ta đang ra sức xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, con người là trung tâm thì con người trước hết phải biết về cội nguồn, về dòng họ, huyết thống; và trong giao dịch xã hội, bao nhiêu thủ tục hành chính liên quan đến tên họ, con người, thì con người phải được xác lập họ và tên đầy đủ. Boi Jau là một dòng văn hoá M’nông đã hình thành và xuyên xuốt trong quá trình phát triển của dân tộc M’nông, mặc dù nó đã bị đứt khoảng, không được liên tục, đầy đủ trong cộng đồng người M’nông, nhưng dòng văn hoá ấy vẫn còn và có những giá trị nhân văn, mang ý nghĩa thực tiển cao. Do đó, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá gia phả dòng họ M’nông, không chỉ tôn vinh vốn văn hoá truyền thống của dân tộc mà còn đáp ứng nhu cầu của đồng bào M’nông đang có ý thức về cội nguồn và nhằm lưu truyền lại cho con cháu mai sau, tạo thuận lợi trong quản lý hộ tịch, hộ khẩu, các loại giấy tờ hành chính liên quan, tránh được những điều đáng tiếc trong hôn nhân cùng huyết thống.
Theo baotayninh.vn

Có thể bạn quan tâm

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xã Đất Mũi là đơn vị hành chính cuối cùng ở cực Nam Tổ quốc, cách trung tâm tỉnh Cà Mau hơn 110 km. Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Mùa xuân ở vùng đất này không chỉ có sắc mai vàng mà còn mang theo hương vị mặn mòi của biển cả, mùi thơm của những mẻ cá khô và niềm hy vọng mãnh liệt về sự khởi sắc của quê hương.