Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh

Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh

Là dân tộc ít người ở Việt Nam, người Mông xanh cư trú chủ yếu ở 2 thôn Nậm Tu Thượng và Nậm Tu Hạ của xã Nậm Xé (huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai). Người Mông xanh hiện vẫn còn lưu giữ được phong tục tập quán, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đặc biệt là nghi lễ cưới hỏi đặc sắc.

Thổi sáo vầu xin mở cửa, treo ô

 Theo phong tục truyền thống của người Mông xanh, nghi lễ cưới hỏi cũng giống như một số dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam như: lễ ăn hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Để tổ chức lễ ăn hỏi, người Mông xanh thường chọn ngày Hợi, ngày Tuất hoặc ngày Thìn. Đoàn đi ăn hỏi chỉ có 3 người, thường đi vào buổi chiều tối, đi đầu là ông mối, tay cầm sáo vầu, tiếp đến là chú rể và sau cùng là phù rể. Ông mối được chọn phải là người giỏi giao tiếp, có tài hát đối đáp và đặc biệt phải biết thổi sáo vầu - để thổi bài sáo xin mở cửa vào nhà, xin treo ô…

Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh ảnh 1Trước ngày cưới ông mối phải dẫn đầu đoàn nhà trai tay cầm sáo vầu đến nhà gái làm lễ ăn hỏi.

Khi đến trước cửa chính của nhà cô gái, ông mối lấy sáo ra thổi ba hồi sáo báo hiệu để nhà gái ra mở cửa cho đoàn vào nhà. Bố cô gái ra mở cửa mời đoàn nhà trai vào, đoàn nhà trai được gia đình nhà gái mời ngồi ở bên bếp lửa chính của gia đình. Sau khi nghe ông mối trình bày xong lý do, bố cô gái sẽ hỏi ý kiến con gái mình. Nếu con gái nhất trí làm vợ người ta thì nhà gái sẽ dọn cơm, mỗi người phải ăn một bát cơm thật đầy thể hiện tấm chân tình. Nếu cô gái không đồng ý, mẹ cô gái sẽ rót 3 bát rượu và lạy trả nhà trai 3 lạy. Khi cô gái đồng ý, đoàn ăn hỏi sẽ ngủ lại một đêm, sáng hôm sau được nhà gái đưa đi phát nương hoặc đắp bờ ruộng.

Chú rể mặt bôi phẩm màu, cô dâu trùm khăn đen dài

Sau khi nhà trai chuẩn bị xong đồ sính lễ gồm: thịt, gạo, rượu, 2 đồng bạc trắng hoa xòe, thì tổ chức sang nhà gái từ chiều hôm trước. Đoàn đón dâu gồm: vợ chồng ông mối, chú rể, phù rể, chị hoặc em gái của chú rể, phù dâu, một cặp vợ chồng làm người đón thông gia, một người gùi đồ lễ.

Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh ảnh 2Cô dâu trùm vải đen kín đầu được chị gái chú rể dắt tay về nhà chồng.

Khi đến nhà gái, ông mối xin phép vào nhà chào bố cô dâu và anh em bên nhà gái. Ông cậu bên nhà gái đại diện đón tiếp đoàn và trực tiếp nhận, kiểm tra lễ vật. Vào nhà, ông mối lấy thuốc lào mời anh em bên nhà gái, sau đó rót rượu vào 2 bát to để trình bày lý do xin cưới. Đêm đó, đoàn đón dâu ngủ lại nhà gái, đến 12 rưỡi trưa hôm sau, ông mối làm thủ tục xin đón dâu về. Đoàn đón và đưa dâu đều mặc trang phục truyền thống dân tộc, đặc biệt cô dâu đầu đội khăn đen dài phủ che kín mặt, khi đi về nhà chồng không được phép quay mặt nhìn về nhà bố mẹ vì sợ sau này cuộc sống không hạnh phúc. Trên đường về nhà, đoàn đón dâu dừng lại ăn cơm rồi mới đi tiếp.

Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh ảnh 3Tục mời thuốc lào của nhà trai trong lễ ăn hỏi.

Đoàn về đến nhà trai, cô dâu được đưa thẳng vào buồng. Đại diện nhà trai đem thuốc lào, nước chè mời đoàn nhà gái, rồi cùng tổ chức tiệc cưới. Đêm đó, hai họ hát đối, giao duyên… Nhà gái ngủ lại một đêm. Sáng sớm hôm sau, nhà trai tặng đùi lợn cho nhà gái mang về. Cùng ngày hôm đó, nhà trai sẽ tổ chức ăn thủ lợn, còn nhà gái mời anh em thân thiết trong dòng họ cùng đến ăn đùi lợn.

Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh ảnh 4Theo phong tục dân tộc Mông xanh khi đến đón dâu, mặt chú rể được bôi phẩm màu.

Sau khi cưới 3 ngày, cô dâu chú rể sẽ về bên nhà gái để gặp gỡ, lại mặt và nhận đồ, tặng phẩm do nhà gái tặng mang về. Từ đó, vợ chồng chăm chỉ lao động, tăng gia sản xuất, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc.

Theo Langvietonline.vn

Langvietonline.vn
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.