Di sản cồng chiêng – niềm tự hào của đồng bào dân tộc S’tiêng Bình Phước

Màn biểu diễn cồng chiêng trong lễ hội mừng lúa mới của đồng bào S’tiêng ở Bình Phước. Ảnh: K 'GỬIH-TTXVN
Màn biểu diễn cồng chiêng trong lễ hội mừng lúa mới của đồng bào S’tiêng ở Bình Phước. Ảnh: K 'GỬIH-TTXVN

Cồng chiêng được xem là “di sản” văn hóa độc đáo có sức hút mạnh mẽ của đồng bào dân tộc S’tiêng. Cộng đồng dân tộc S’tiêng Bình Phước xem cồng chiêng là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu giữa con người, thần linh và các thế lực siêu nhiên. Mỗi chiếc cồng chiêng của từng gia đình biểu hiện cho tài sản, quyền lực và sự an toàn.

Di sản cồng chiêng – niềm tự hào của đồng bào dân tộc S’tiêng Bình Phước ảnh 1Màn biểu diễn cồng chiêng trong lễ hội mừng lúa mới của đồng bào S’tiêng ở Bình Phước. Ảnh: K 'GỬIH-TTXVN

Di sản cồng chiêng của đồng bào S’tiêng

Ông Điểu Huyền Lít, người dân tộc S’tiêng ở thôn 7, xã Long Giang, thị xã Phước Long là người không chỉ “giữ hồn” cho di sản cồng chiêng của đồng bào S’tiêng Bình Phước mà còn là người cất công sưu tầm nhiều bộ cồng chiêng quý của đồng bào.

Khi một số thành viên trong gia đình mỗi người mang một nhạc cụ cồng hoặc chiêng lên tay cũng là lúc những giai điệu, âm hưởng của núi rừng vang lên. Âm thanh trầm, bổng ngân vang nhịp nhàng theo từng bước chân vòng quanh của những nghệ nhân đồng bào S’tiêng tạo thành hợp khúc của không gian núi rừng, nương rẫy.

“Âm thanh của cồng chiêng vang lên chính là âm thanh của lễ hội, của văn hóa tâm linh của đồng bào S’tiêng. Đây là nét văn hóa riêng, đồng thời cũng là niềm tự hào của đồng bào dân tộc S’tiêng Bình Phước”, ông Điểu Huyền Lít chia sẻ.

Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Bình Phước có 40 dân tộc thiểu số với khoảng 200.000 người, chiếm 20% dân số toàn tỉnh; trong đó người dân tộc S’tiêng có khoảng 100.000 người. Đồng bào S’tiêng Bình Phước được xem là người dân tộc bản địa, sống lâu đời tại các huyện Bù Đăng, Bù Đốp, Hớn Quản, thị xã Bình Long, Phước Long.

Trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào S’tiêng, nghệ thuật trình diễn dân gian được xem là món ăn tinh thần không thể thiếu. Đối với nghệ thuật cồng chiêng, đây là một trong những loại hình nghệ thuật tiêu biểu, có giá trị tinh thần rất cao của người S’tiêng. “Cồng chiêng của Bình Phước là một bộ phận trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. So với những loại hình nghệ thuật khác, cồng chiêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của người S’tiêng ở Bình Phước”, nhà nghiên cứu văn hóa Đinh Nho Dương – Bảo tàng Bình Phước cho biết.

Theo nhà nghiên cứu Đinh Nho Dương, tất cả các lễ hội, các hoạt động giao lưu văn hóa của cộng đồng dân cư S’tiêng đều có sự tham gia biểu diễn của cồng chiêng. Từ những lễ hội quy mô nhỏ mang tính gia đình, đến những lễ hội của sóc, ấp đều không thể thiếu cồng chiêng.

“Không như các loại hình nghệ thuật khác, biểu diễn cồng chiêng còn mang ý nghĩa và nghi lễ tâm linh. Đối với cư dân S’tiêng, cồng chiêng vừa là tài sản quý nhưng cũng đồng thời là vật thiêng trong nhà. Muốn đưa cồng chiêng ra biểu diễn thì trước đó gia chủ phải làm lễ cúng”, ông Đinh Nho Dương, cho biết.

Bà Trương Thị Mỹ Huệ (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước) cho biết, cồng chiêng là di sản văn hóa tồn tại từ nền văn hóa Đông Sơn cách nay 3.500 – 4.000 năm. Văn hóa cồng chiêng là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộc thiểu số sống ở Nam Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung và Bình Phước nói riêng.

“Cồng chiêng được xem là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu giữa con người, thần linh và các thế lực siêu nhiên. Những chiếc cồng chiêng của mỗi gia đình biểu hiện cho tài sản, quyền lực và sự an toàn”, bà Huệ cho biết.

Theo bà Trương Thị Mỹ Huệ, trải qua thời gian, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của người S’tiêng Bình Phước. Cồng chiêng S’tiêng đặc biệt không chỉ ở sự độc đáo về các bè trầm bổng mà còn là cuộc sống của người S’tiêng Bình Phước. Nghe cồng chiêng là thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội của đồng bào S’tiêng.

Theo các nhà nghiên cứu, cồng chiêng là loại nhạc khí bằng đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không có núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20 – 60cm, loại cực đại có thể lên tới 120 cm. Cồng chiêng có thể dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 – 13 chiếc, thậm chí có nơi 18 – 20 chiếc. Cồng chiêng có thể được gõ bằng dùi, đấm bằng tay. Người S’tiêng Bình Phước chủ yếu đấm bằng tay và áp dụng kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái hoặc tạo giai điệu trên một chiếc cồng, chiêng.

Bảo tồn giá trị văn hóa cồng chiêng của người S’tiêng

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước cho biết, trong nhiều năm qua, những người làm văn hóa ở Bình Phước đã tiếp nhận khuyến nghị từ các nhà khoa học quan tâm và khuyến khích các hoạt động văn hóa có sử dụng cồng chiêng; đồng thời, duy trì tổ chức các liên hoan cồng chiêng thường niên ở cấp xã, huyện và tỉnh. Qua đó, huy động các đội cồng chiêng, các nghệ nhân người S’tiêng tham gia nhằm truyền cảm hứng và góp phần bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể cồng chiêng. Tại các trường dân tộc nội trú cũng được khuyến khích đưa môn cồng chiêng vào truyền dạy cho các bậc học sinh người đồng bào dân tộc S’tiêng.

Bà Trương Thị Mỹ Huệ cho biết, nhờ đó đến nay, hầu hết các thôn, sóc người S’tiêng trên địa bàn Bình Phước đều có các đội cồng chiêng phục vụ đồng bào sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. “Vào ngày lễ, Tết, hình ảnh quen thuộc bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa nhún nhảy theo tiếng cồng chiêng vang dội. Âm thanh cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày lễ hội. Đó là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào S’tiêng.

Ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Phước, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu về văn hóa dân tộc S’tiêng Bình Phước cho rằng: Đồng bào S’tiêng quần cư khá lâu đời và tạo dựng cho riêng mình một bản sắc văn hóa đặc trưng. Nổi bật là các loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, phong phú. Các loại hình nghệ thuật này không chỉ mang bản sắc riêng, phục vụ cộng đồng cư dân mà còn có sự giao thoa văn hóa với các cộng đồng dân tộc khác, làm cho nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật cồng chiêng của đồng bào S’tiêng phong phú hơn.

"Để bảo tồn và phát huy nét đẹp, truyền thống của văn hóa S’tiêng nói chung và nghệ thuật cồng chiêng đồng bào S’tiêng nói riêng, cần có sự quan tâm đúng mức, ưu tiên các nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; có chính sách hỗ trợ để cộng đồng có môi trường và không gian văn hóa rộng mở để bảo tồn di sản", ông Lê Văn Quang nhận định.

Tại Bình Phước, địa danh sóc Bom Bo đã đi vào lịch sử bởi tinh thần cách mạng quật cường của đồng bào S’tiêng. Nhịp chày giã gạo của đồng bào S’tiêng cùng với âm thanh trầm bổng của tiếng nhạc từ cồng chiêng đã đi vào lòng người qua những áng thơ ca.

Sóc Bom Bo (xã Bình Minh, huyện Bù Đăng) là nơi đồng bào S’tiêng quần cư, với lối sinh hoạt, phong tục, tập quán riêng. Đồng bào lấy sản xuất nông, lâm nghiệp làm nghề chính để mưu sinh và sử dụng sắc thái văn hóa truyền thống, qua làn điệu dân ca, điệu nhạc cồng chiêng làm nền tảng sinh hoạt đời sống văn hóa tinh thần.

Năm 2009, tỉnh Bình Phước đã xây dựng khu bảo tồn văn hóa S’tiêng – Sóc Bom Bo với các công trình kiến trúc mang đậm nét văn hóa của dân tộc S’tiêng.

Bên bếp lửa bập bùng, những tiếng hát, điệu nhảy vòng quanh hòa vào những nhịp, thanh âm của cồng chiêng đã tạo nên một không gian riêng của núi rừng, của lễ hội, nơi cộng đồng người dân tộc S’tiêng sinh sống. “Cắc cum cụp cum, cum cụp cum. Đuốc lồ ô bập bùng lên ánh lửa. Sóc Bom Bo rộn rã tiếng chày khuya… Cách mạng cần gạo nhiều để đánh Mỹ. Sóc Bom Bo sẵn có cối chày đây. Người Bom Bo sẵn có đôi bàn tay. Với tình yêu nước và thù giặc ngày ngày”.

Sỹ Tuyên

(TTXVN)
Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.