Lễ hội Pang A của người La Ha

Lễ hội Pang A của người La Ha
Lễ hội Pang A là nét văn hóa, tín ngưỡng độc đáo của người La Ha các huyện: Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mường La (Sơn La). Lễ hội “Pang A” được tổ chức để cầu cho mùa màng tươi tốt, cầu sức khỏe, may mắn cho dân làng và bày tỏ lòng cảm tạ thần linh và các thầy lang có công bảo vệ dân bản.
Mâm lễ tiễn các thần linh về trời trong Lễ hội Pang A
Mâm lễ tiễn các thần linh về trời trong Lễ hội Pang A 

Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có phong tục tập quán và bản sắc văn hóa riêng. Dân tộc La Ha hiện còn dưới 10.000 người, là một trong số 16 dân tộc thiểu số trong toàn quốc cần được bảo tồn văn hóa truyền thống khẩn cấp. Tại Sơn La, người La Ha chỉ chiếm 0,87% dân số toàn tỉnh, tuy ít, nhưng người La Ha vẫn giữ phong tục, tập quán và bản sắc văn hóa riêng.

Lễ hội Pang A diễn ra 1 ngày, tại nhà thầy mo, các con nuôi được thầy chữa khỏi bệnh sẽ được mời tham gia lễ hội, quy mô tổ chức Lễ hội Pang A tùy thuộc vào từng thầy mo. Nếu thầy mo có nhiều năm hành nghề, con nuôi đông thì quy mô tổ chức lễ hội lớn. Các thầy mo mới hành nghề thì tổ chức quy mô nhỏ hơn. Người La Ha có quan niệm về thời hạn của con nuôi, thông thường, người bệnh nhẹ thì tự nhận mình làm con nuôi thời gian từ 1-2 năm, người bệnh nặng từ 3-5 năm, sau thời gian này nếu ai có điều kiện thì có thể về thăm cha nuôi hàng năm. Nhiều người đã hết hạn con nuôi vẫn đến để dự lễ hội để mong con, cháu của mình có lòng biết ơn đối với thầy mo, nối sợi dây tình cảm lâu dài. Lễ hội được tổ chức quy mô lớn hay nhỏ thì bà con dân bản đều đến dự đông đủ, chia vui cùng với thầy mo và các con nuôi.

Để chuẩn bị tổ chức Lễ hội, những người trong gia đình chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho lễ hội và báo các con nuôi, họ hàng ở xa và bà con dân bản đến dự lễ hội. Trong lễ cúng không thể thiếu cây Xặng Bók được làm từ một cây tre và 1 cây mía buộc vào nhau dựng đứng từ sàn lên đến nóc nhà, trên đó trang trí nhiều vật dụng liên quan đến đời sống sinh hoạt hàng ngày như: Sợi sùng, sợi mon, cống mạy, con ve, quả còn, chim cu gáy, hoa chuối... các đồ trang trí này cũng là đạo cụ của phần hội.

Đến ngày làm lễ, gia đình thầy mo dựng cây Xặng Bók ở gian giữa nhà, lễ vật và những chum rượu cần các con nuôi mang đến đặt xung quanh cây Xặng Bók. Gia đình thầy mo sẽ mổ một con lợn, nướng cá, chuẩn bị rau, xôi để làm lễ cúng và làm thức ăn mời con nuôi và những người trong bản đến tham dự. Ngoài ra, lễ vật không thể thiếu đó là 3 chum rượu cần. Trước tiên, thầy mo sẽ cúng ở mâm cạnh cửa sổ để báo cáo với tổ tiên là hôm nay gia đình tổ chức Lễ Pang A, mong tổ tiên cho phép, phù hộ và mời về dự Lễ Pang A. Sau đó thầy cúng sẽ quay sang cúng lễ tại mâm cúng chính cạnh cây Xặng Bók, người nhà sẽ mở các chum rượu cần, cắm cần vào để thầy cúng mời các thần linh về dự lễ, phù hộ cho gia chủ, các con nuôi, dân bản khỏe mạnh.

Trong khi các thầy mo cúng thì người nhà bày mâm cỗ, những người tham gia và các con nuôi vừa ăn, vừa thi uống rượu cần, tạo nên không khí vui vẻ, náo nhiệt của lễ hội. Lễ cúng bắt đầu từ khoảng 9 giờ sáng đến 2 giờ chiều, thì mọi người vào màn múa tăng bu. Người nhà đặt 1 tấm ván lên sàn nhà, chốt chặt lại, treo trống, chiêng lên xà nhà. Khi tiếng trống chiêng nổi lên, mỗi người cầm một đoạn tre bắt đầu múa tăng bu vòng quanh tấm ván gỗ, họ bước theo nhịp trống, chiêng và nhịp dỗ của ống tre. Đi được khoảng 3-4 vòng họ lại cùng nhau hú lên rồi quay trở lại, cứ như vậy, màn múa kéo dài khoảng 1 giờ. Buổi chiều thầy cúng tiếp tục cúng cho các con nuôi ở xa đến và uống rượu cần.

Lễ Pang A kết thúc bằng việc người nhà kiểm tra xem tất cả các chum rượu cần đã uống nhạt chưa, nếu uống nhạt rồi thì rút tất cả cần rượu ra đan với nhau thành 1 tấm, bên trên đặt 1 mâm lễ nhỏ được lấy từ mỗi phần lễ một ít đặt lên, tất cả con nuôi và thầy cúng, mỗi người cầm 1 đầu cần rượu để dâng mâm lễ tiễn đưa thần linh về trời, nghi lễ diễn ra trong khoảng 20 phút, sau đó thầy mo lại quay ra cúng cảm ơn tổ tiên, các con nuôi rút khăn trên vách xuống thực hiện điệu múa khăn để tiễn đưa thần linh về trời.

Lễ hội Pang A đã có phần lễ và phần hội đan xen. Phần lễ tôn nghiêm, giàu bản sắc. Phần hội sôi động, sáng tạo, các điệu múa gần gũi với cuộc sống hàng ngày, phản ánh các hoạt động trong lao động sản xuất, ẩn chứa ước nguyện của tộc người được phù hộ, cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, bản làng ít xảy ra tai ương dịch họa, dòng tộc phát triển hạnh phúc... Trên hết, lễ hội nhắc nhở con cháu ghi nhớ công ơn thầy thuốc có công cứu chữa cho mình được khỏi bệnh, nhắc nhở con cháu nhớ về nguồn cội và truyền lại cho các thế hệ kế tiếp những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc, cần được giữ gìn, phát huy và lưu truyền cho đời sau.
Theo baosonla.org.vn
Dân tộc La Ha

Tên tự gọi: La Ha, Klá, Phlạo.

Tên gọi khác: Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa.

Nhóm địa phương: La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha củng).

Dân số: 8.177 (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người La Ha có mặt sớm ở miền Tây Bắc nước ta. Theo những tài liệu chữ Thái cổ thì vào thế kỷ XI, XII khi người Thái Ðen thiên di tới vùng đất này, họ đã gặp tổ tiên của người La Ha hiện nay. Chính vì vậy, khi làm lễ cúng Mường, người Thái vẫn còn tục đặt cỗ "trâu trắng" để tế thần Ăm Poi - một thủ lĩnh nổi tiếng của người La Ha vào đầu thế kỷ XI.

Hoạt động sản xuất: Người La Ha bắt đầu làm ruộng nước nhưng loại hình kinh tế chính vẫn là nương rẫy du canh du cư và săn bắt, hái lượm. Phương thức canh tác đơn giản, dùng gậy chọc lỗ và dao phát nương. Cây trồng chủ yếu là lúa nếp, ngô, đậu tương, bông. Phụ nữ La Ha không biết dệt vải, do đó họ phải đem bông đổi vải của người Thái để may mặc.

Ăn: Lương thực chính là gạo nếp chế biến theo cách đồ thành xôi, nay chuyển sang ăn cơm tẻ. Thực phẩm thường được ướp chua, nướng, lùi hoặc sấy khô để dành. Phụ nữ ăn trầu.

Mặc: Trước kia đàn ông búi tóc sau gáy nhưng đến nay chỉ còn vài cụ già và thầy cúng giữ tục này. Ðàn bà nhuộm răng đen, mặc giống người Thái Ðen. Một số nơi còn đeo thêm tạp dề ở phần váy trước hoặc khoác trên lưng khi rét. Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi tóc trên đỉnh đầu giống người Thái Ðen. Có nơi từ em bé gái đến bà cụ già chỉ có một cách búi duy nhất là trên đỉnh đầu hoặc do ảnh hưởng của người Thái Trắng chỉ vấn tóc trần hoặc búi tóc sau gáy không phân biệt có chồng hay chưa.

: Nhà sàn cấu trúc theo 2 kiểu:

Kiểu ở tạm từ 1 đến 3 năm của những nhóm sống du canh du cư. Loại nhà này hai đầu hồi mái nhà lượn tròn theo bầu dục, dài ra hai bên như hình hàm lợn...

Kiểu nhà ở lâu năm của những nhóm cư dân sống bán định cư, bán định canh hoặc định canh định cư. Loại nhà này hai đầu hồi mái tròn khum hình mai rùa giống kiểu nhà người Thái Ðen.

Bố cục trong nhà chia làm hai phần, phần để tiếp khách rộng từ 1/2 đến 2/3 diện tích nhà. Ngăn giữa phần chủ và khách là một cột buộc hũ rượu cần bên cạnh.

Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.

Quan hệ xã hội: Người La Ha sống theo làng bản là Khun cai, hai người giúp việc Khun cai là Khun tang, Khun téng do dân cử ra.

Gia đình người La Ha là gia đình nhỏ, phụ hệ. Không chỉ con cái mang họ bố mà vợ cũng phải mang họ chồng. Con gái không được thừa kế tài sản.

Cưới xin: Hôn nhân một vợ một chồng đã mang tính chất mua bán thể hiện ở khoản tiền cưới gọi là nang khả pom (giá đầu người) để trả ơn bố mẹ vợ và tục ở rể. Tuy nhiên trai gái được tự do tìm hiểu, không có sự ép buộc của cha mẹ. Sau thời gian tìm hiểu từ 3 đến 10 ngày người con trai nói với bố mẹ cử người đi dạm. Nhà gái nhận trâu và đưa áo của cô gái cho bên nhà trai xem bói. Nhà gái chia trầu cho họ hàng để hỏi ý kiến. Ai không đồng ý thì trả lại trầu. Trong 5 ngày nếu nhà gái không trả lại trầu cho nhà trai có nghĩa là nhà gái đồng ý và 10 ngày sau người con trai đến nhà gái bắt đầu ở rể làm công cho bố mẹ vợ. Thời gian ở rể là từ 4 đến 8 năm. Hết hạn ở rể mới bắt đầu tổ chức lễ cưới chính thức thu mà phu (làm cơm rượu). Sau lễ cưới này, cô dâu được đón về nhà chồng, đổi họ theo họ chồng và không được quay về ở với bố mẹ đẻ nữa, dù chồng chết.

Trường hợp người đàn bà goá đi bước nữa, người chồng thứ hai mang lễ cưới nhỏ thu cơi poọng (làm gà báo cưới) đến gia đình người chồng thứ nhất chứ không cần có quan hệ gì với bố mẹ của người đàn bà goá. Người đàn bà goá đi bước nữa vẫn quan niệm rằng khi chết đi, hồn lại tìm về với người chồng chính thức đã làm lễ thu mà phu. Vì vậy, ở một số nơi, bố mẹ đã chết cả mà chưa làm được lễ cưới thu mà phu thì con phải làm lễ cưới đó cho bố mẹ để bố mẹ được sống với nhau ở thế giới bên kia.

Thờ cúng: Người La Ha thờ tổ tiên trong gian nhà "hóng" như của người Thái.

- Thầy cúng một lao cúng gọi hồn và đuổi tà ma. Hàng năm hoặc 2-3 năm một lần một lao làm lễ cúng tổ tiên của mình của mình và các vị thần linh khác. Trong số các vị thần linh khác. Trong số các vị thần ấy "thần dương vật" (linga) và "thần cung kiếm" là đáng sợ hơn cả. Bởi vậy, bàn thờ của một lao bao giờ cũng có hình nộm dương vật, kiếm và cái mộc.

Kiêng đem rau xanh, lá xanh, vật màu xanh và thịt sống vào cửa bên ở gia đình, mà phải mang những thứ đó vào cửa của bên khách. Khi đặt nồi, chảo lên bếp phải đặt hai quai theo hướng nằm ngủ của người trong gia đình, kiêng không để quai nồi, chảo theo hướng của 2 cửa ra vào vì đó là hướng đặt người chết trước khi đem chôn. Khi có người chết, tất cả những điều kiêng kỵ trên đều huỷ bỏ và làm ngược lại.

Ma chay: Người La Ha không có tục đốt xác như người Thái Ðen mà đem chôn. Thi hài được liệm bằng vải hoặc bằng chiếu nan và khiêng ra đến mộ mới bỏ vào quan tài và hạ huyệt. Nếu người chết là bố, người con trai cầm dao phá nơi thờ cũ đuổi ma bậc ông đi để bắt đầu thờ ma bố. Nếu người chết là mẹ, con trai cầm dao đập vào phên chỗ mẹ ngủ, tượng trưng cho việc đuổi ma bậc bà đi để bắt đầu thờ ma mẹ. Người chết được đặt nằm dọc theo cây xà ngang, nếu người chết là bố thì đặt nằm dưới cây xà ngang thứ nhất, nếu là mẹ, đặt dưới cây xà ngang thứ hai, nếu người chết là con trai cả đặt nằm dưới cây xà ngang thứ ba...

Khi khiêng người chết đi chôn, người chết là bố thì khiêng ra cửa gian khách (quản), là mẹ phá vách trước khiêng ra, nếu là con khiêng ra cửa sàn. Trên huyệt người ta đã dựng sẵn một cái nhà nhỏ có 2 mái cao chừng 2m. Mái nhà mồ lợp bằng gianh dỡ một phần của mái nhà ở mang ra. Người chết là bố thì dỡ gianh ở phía đầu chỗ ngủ để lợp. Nếu người chết là mẹ thì dỡ gianh ở mái nhà phía chân chỗ ngủ, là con trai thì dỡ gianh mái hồi phía sàn phơi thóc, con gái thì dỡ gianh ở mái hồi phía sàn để nước. Trong nhà mồ đặt những thứ cần thiết cho một cuộc sống như: giỏ cơm, quần áo, chăn, đệm. Sau khi đưa đám trở về nhà, người ta thường khua cối giã gạo để xua ma không quấy phá gia đình.

Lịch: Theo lịch của người Thái.

Học: Người La Ha trước kia học chữ Thái.

Văn nghệ: Người La Ha hát, làm thơ bằng tiếng Thái khá thạo. Hai điệu múa đặc trưng là múa dương vật (linga) và múa cung kiếm. 

Theo cema.gov.vn

Dân tộc La Ha

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp đón Tết cổ truyền của người Mường Phú Thọ

Nét đẹp đón Tết cổ truyền của người Mường Phú Thọ

Tết Nguyên đán, còn gọi là Tết Năm mới của đồng bào Mường từ lâu đã trở thành phong tục văn hóa đặc sắc, mang đậm giá trị nhân văn, được cộng đồng người Mường ở Phú Thọ gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Đối với người Mường, đây là cái Tết lớn nhất, quan trọng nhất trong năm, là thời khắc thiêng liêng để con cháu hướng về tổ tiên, đất trời và cầu mong một năm mới an lành, no đủ.

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Đồng bào Gia Lai vững niềm tin theo Đảng

Trải qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Gia Lai - một tỉnh miền núi, biên giới thuộc khu vực Tây Nguyên đã có những bước chuyển mình rõ nét. Những đổi thay ấy được cảm nhận sinh động qua thực tiễn sản xuất, đời sống của người dân và góc nhìn của những người gắn bó, đồng hành cùng địa phương suốt chặng đường phát triển.

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách về dân tộc, tôn giáo

Sở Dân tộc và Tôn giáo cần kết hợp ứng dụng công nghệ số với trao đổi trực tiếp, giữ liên hệ gần gũi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc, tôn giáo. Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Khởi đã chỉ đạo nội dung trên tại Hội nghị Tổng kết công tác dân tộc và tôn giáo năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 diễn ra sáng 15/1.

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Độc đáo 'Tết năm cùng' ở bản người Dao Hạ Sơn

Với quan niệm, Tết là dịp để gia đình, dòng tộc sum họp sau 1 năm lao động vất vả, cũng là dịp để báo với tổ tiên về những thành quả trong cả năm, cầu mong những điều tốt sẽ đến trong năm mới, từ tháng 11 - 12 Âm lịch hàng năm, khắp các bản làng người Dao xứ Thanh lại cùng nhau ăn "Tết năm cùng".

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Những làng nghề truyền thống 'dệt' nên bức tranh Tết xứ Quảng

Giữa nhịp sống hối hả của kỷ nguyên công nghệ, tại Quảng Ngãi, những người thợ dệt vẫn chọn cách “đón Tết” bằng nhịp điệu thong dong của khung cửi. Với họ, mỗi tấm chiếu, mỗi dải thổ cẩm không chỉ là món hàng, mà là “tờ lịch” ghi dấu sự chuyển mình của mùa Xuân.

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Nằm giữa vùng sơn cước, bản Bắc Hoa, xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đang từng bước chuyển mình từ một bản làng thuần nông trở thành điểm đến du lịch cộng đồng giàu bản sắc. Với hệ thống nhà cổ, đời sống văn hóa truyền thống của đồng bào Nùng còn được gìn giữ khá nguyên vẹn, cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, Bắc Hoa được kỳ vọng sẽ trở thành điểm nhấn mới trong phát triển du lịch văn hóa, sinh thái của tỉnh.

Lễ mừng cơm mới của đồng bào dân tộc Thái ở Phú Thọ

Lễ mừng cơm mới của đồng bào dân tộc Thái ở Phú Thọ

Giữa nhịp sống hiện đại, ở những bản làng người Thái vùng Mai Châu, lễ cơm mới vẫn được gìn giữ như một nét văn hóa thiêng liêng gắn với vòng quay mùa vụ. Mỗi khi lúa chín, thóc đầy bồ, bà con lại háo hức chuẩn bị mâm lễ để tạ ơn trời đất, tổ tiên đã phù hộ cho một vụ mùa bội thu. Qua từng nghi thức, lễ cơm mới không chỉ là ngày mừng mùa mà còn là dịp để các thế hệ người Thái tiếp nối, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Gắn bó mật thiết với nương rẫy và núi rừng Tây Bắc, đồng bào dân tộc Khơ Mú từ bao đời nay vẫn gìn giữ nghi thức thu thóc cầu mùa bội thu như một sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng quan trọng. Không chỉ thể hiện niềm tin vạn vật hữu linh, Lễ cầu mùa còn là dịp để cộng đồng bày tỏ lòng biết ơn trời đất, tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng no ấm và đoàn kết.

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Nép mình nơi ngã ba sông ở đầu nguồn châu thổ Cửu Long, nơi dòng nước mát lành của sông Hậu và sông Châu Đốc cùng in bóng những thánh đường Hồi giáo cổ kính hòa quyện tiếng đọc kinh Quan âm vang như nhịp đập của xóm người Chăm, nghề dệt thổ cẩm truyền thống theo đạo Hồi giáo Islam ở An Giang đã và đang được hồi sinh mạnh mẽ dưới đôi tay của những người phụ nữ xóm Chăm ở ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc bản địa, gắn với phát triển du lịch cộng đồng, Lễ cầu hôn (Lễ ăn hỏi) truyền thống của người Jrai vừa được phục dựng tại làng Ơp, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai. Lễ phục dựng không chỉ tái hiện sinh động một nghi lễ tiêu biểu trong đời sống hôn nhân của người Jrai theo chế độ mẫu hệ, mà còn góp phần giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân bản địa trên cao nguyên Gia Lai đến với du khách.

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Ngày 1/1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), diễn ra hoạt động tái hiện Lễ cưới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đang hoạt động tại Làng. Lễ cưới không chỉ thể hiện tập quán truyền thống của các dân tộc vùng Trường Sơn Tây Nguyên: đồng bào dân tộc Xơ Đăng, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Ba Na, Tà Ôi, Cơ Tu khi trai, gái đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình mà còn là một ngày hội gắn kết cộng đồng trong buôn làng.

Mâm cơm cuối năm gắn kết cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa

Mâm cơm cuối năm gắn kết cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa

Chiều 28/12, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, cộng đồng các dân tộc đang sinh hoạt thường xuyên đã tổ chức giới thiệu mâm cơm sum họp ngày cuối năm. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện tháng 12 với chủ đề “Chào năm mới 2026”, góp phần làm rõ vai trò của ẩm thực truyền thống trong đời sống văn hóa xã hội của đồng bào các dân tộc.

Yên Lạc “giữ lửa” nghề chằm áo tơi truyền thống

Yên Lạc “giữ lửa” nghề chằm áo tơi truyền thống

Chiếc áo mộc mạc, được làm từ những tàu lá cọ khô, không chỉ là vật dụng che mưa nắng quen thuộc của người dân thôn Yên Lạc (xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) suốt hàng trăm năm, mà còn là biểu tượng của sự cần cù, khéo léo và nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc. Giữa nhịp sống hối hả, nghề chằm áo tơi truyền thống vẫn được người dân lặng lẽ “giữ lửa”, trao truyền qua bao thế hệ, bảo tồn một phần hồn quê hương trong từng sợi lá.

Bảo tồn không gian văn hóa của người Xơ Đăng

Bảo tồn không gian văn hóa của người Xơ Đăng

Trong hai ngày 11 và 12/12, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tổ chức bàn giao mô hình bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Xơ Đăng (nhóm Tơ Đ’ră) tại xã Ngọc Réo và dân tộc Xơ Đăng (nhóm Mơ Nâm) tại xã Kon Plông.

Sắc màu hội tụ và lan tỏa bản sắc 49 dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Sắc màu hội tụ và lan tỏa bản sắc 49 dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Chiều 12/12, tại Nhà truyền thống tổ dân phố N’Jriêng (phường Đông Gia Nghĩa), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng tổ chức lễ bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh lần thứ nhất, năm 2025 với chủ đề “Sắc màu hội tụ và lan tỏa”.

Độc đáo lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu

Độc đáo lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu

Trong không gian nhà sàn trầm ấm thoảng hương lúa mới, lễ cúng mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu, Phú Thọ từ nhiều đời nay vẫn được gìn giữ như một nghi lễ thiêng liêng. Lễ cúng mừng cơm mới là lời tri ân mùa màng, biểu tượng của văn hóa nông nghiệp lúa nước, là sợi dây gắn kết gia đình, dòng họ, cộng đồng người Thái trong hành trình lao động và gìn giữ bản sắc dân tộc.

Bảo tồn, gìn giữ giá trị Lễ mừng lúa mới của đồng bào Giẻ Triêng

Bảo tồn, gìn giữ giá trị Lễ mừng lúa mới của đồng bào Giẻ Triêng

Từ ngày 4 - 6/12/2025, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức truyền dạy và phục dựng Lễ mừng lúa mới của dân tộc Giẻ Triêng, nhằm mục tiêu bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa của nghi lễ đặc trưng này, trong bối cảnh có nguy cơ bị mai một theo thời gian.

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Người Ê Đê sinh sống tại huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên cũ) nay thuộc các xã: Sông Hinh, Đức Bình, Ea Ly, Ea Bá (tỉnh Đắk Lắk) hiện còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống bản địa đặc sắc, độc đáo. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, chính quyền địa phương đã nỗ lực phát huy những giá trị đó trở thành điểm nhấn trong dòng chảy văn hóa địa phương, tạo thêm nhiều việc làm mới tăng thu nhập cho người Ê Đê thông qua các đề án phát triển du lịch cộng đồng.

Âm vang trống đồng trong đời sống người Lô Lô

Âm vang trống đồng trong đời sống người Lô Lô

Khi ánh mặt trời đầu ngày vừa chạm lên những mái trình tường vàng nơi bản Lô Lô Chải, sương vẫn còn quấn quanh triền núi, tiếng trống đồng bỗng ngân lên - trầm, vang, dội vào vách đá rồi lan ra thung sâu như một luồng sinh khí đánh thức cả cao nguyên. Đấy không chỉ là âm thanh mở đầu của lễ hội, mà là nhịp đập của bao thế hệ người Lô Lô, là lời khẳng định rằng giữa đại ngàn đá xám gió ngàn, bản làng này vẫn giữ trọn linh hồn văn hóa tự ngàn xưa.

Khát vọng vươn lên của xã miền núi Phú Thọ

Khát vọng vươn lên của xã miền núi Phú Thọ

Xã Liên Sơn nằm trong nhóm 5 xã có quy mô lớn nhất tỉnh Phú Thọ, sở hữu địa hình đa dạng, nguồn tài nguyên phong phú và nền văn hóa bản địa giàu bản sắc của đồng bào Mường.

Sắc màu văn hoá của đồng bào Chăm

Sắc màu văn hoá của đồng bào Chăm

Không gian văn hóa đền tháp của đồng bào Chăm tỉnh Khánh Hòa là điểm nhấn đặc sắc nằm trong chuỗi các hoạt động của Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam” (18 - 24/11/2025) đang được giới thiệu tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội).

Sắc màu dân tộc thiểu số ở Bắc Ninh

Sắc màu dân tộc thiểu số ở Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh có trên 39 vạn người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (chiếm 11,02% dân số toàn tỉnh) với nhiều thành phần dân tộc, trong đó có 7 thành phần dân tộc thiểu số chủ yếu gồm: Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chí, Dao (chiếm 97,78% tổng số người dân tộc thiểu số). Mỗi dân tộc có trang phục, tập quán riêng tạo sự khác biệt và đa dạng văn hóa cho vùng đất này.