Người Bố Y

Người Bố Y
Tên tự gọi: Bố Y.

Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia...

Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.

Dân số: 2.273 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).

Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm.

Bộ nữ phục Bố Y có một nét đẹp riêng ở gam màu lạnh, lối tạo hoa văn bằng sáp ong trên váy và chiếc yếm dài trước ngực. Nghề dệt, nhuộm và may mặc truyền thống của họ đang bị mai một dần.
Bộ nữ phục Bố Y có một nét đẹp riêng ở gam màu lạnh, lối tạo hoa văn bằng sáp ong trên váy và chiếc yếm dài trước ngực. Nghề dệt, nhuộm và may mặc truyền thống của họ đang bị mai một dần.

Làng bản của người Bố Y đã định cư từ nhiều đời. Hầu hết các kiến trúc của họ đều kiên cố. Có thể bắt gặp nhiều mái ngói âm dương (ngói máng) hay ngói gỗ trên những căn nhà trình tường
Làng bản của người Bố Y đã định cư từ nhiều đời. Hầu hết các kiến trúc của họ đều kiên cố. Có thể bắt gặp nhiều mái ngói âm dương (ngói máng) hay ngói gỗ trên những căn nhà trình tường

Hoạt động sản xuất: Người Bố Y vốn giỏi làm ruộng nước nhưng đến Việt Nam cư trú ở vùng cao nên chủ yếu phải dựa vào canh tác nương rẫy và lấy ngô làm cây trồng chính. Bên cạnh đó mỗi gia đình thường có một mảnh vườn để trồng rau. Ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ...

Ăn: Người Bố Y ăn ngô xay nhỏ đem luộc cho chín dở rồi mới đồ lên gọi là mèn mén.

Mặc: Trước đây, phụ nữ mặc váy xoè như váy của phụ nữ Mông, váy được tạo hoa văn bằng cách bôi sáp ong lên mặt vải rồi đem nhuộm chàm. Áo ngắn 5 thân có ống tay rời, xiêm che ngực và bụng. Phụ nữ đeo trang sức bằng bạc gồm dây chuyền, vòng tay, khuyên tai; tóc được búi ngược lên đỉnh đầu, đội khăn chàm có thêu hoa văn bằng chỉ màu. Ngày nay, họ mặc giống như người Nùng trong cùng địa phương. Phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán nhưng áo có ống tay rời.

: Người Bố Y cư trú ở Quản Bạ (Hà Giang) và Mường Khương (Lào Cai). Họ ở nhà đất có 2 mái lợp gianh, gỗ hoặc ngói, tường đất trình. Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang là chỗ để lương thực và là chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ.

Quan hệ xã hội: Có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên gồm trưởng bản (pin thàu) và người giúp việc (xéo phải).

Cưới xin - Gồm 3 bước:
 
Bước 1: Nhà trai cử 2 bà mối sang nhà gái xin lá số cô gái về để so tuổi. Nhà gái thường tỏ thiện chí bằng cách tặng nhà trai 10 quả trứng gà nhuộm đỏ. Nếu thấy "hợp tuổi", nhà trai cử 2 ông mối sang trả lá số và xin "giá ăn hỏi".

Bước 2: Lễ ăn hỏi. Sau lễ này, hôn nhân của đôi trai gái coi như được định đoạt.

Bước 3: Lễ cưới. Nhà trai đưa sính lễ cho nhà gái. Ngoài một số thực phẩm còn có 1 bộ trang phục nữ. Chàng rể không đi đón dâu. Khi về nhà chồng, cô dâu cưỡi ngựa do em gái chồng dắt và mang theo một cái kéo, 1 con gà mái nhỏ để đến giữa đường thì thả vào rừng.

Sinh đẻ: Xưa kia, người phụ nữ có tục đẻ ngồi, cắt rốn cho trẻ bằng mảnh nứa, nhau (rau) chôn ngay dưới gầm giường. Khi đứa trẻ được 3 ngày làm lễ cúng mụ, đặt tên tục, đến khi được 2- 3 tuổi mới đặt tên chính thức. Nếu đứa trẻ hay ốm đau thì phải tìm bố nuôi cho vía của nó có chỗ nương tựa.

Ma chay: Ma chay là thể hiện tình cảm của người sống với người chết và đưa hồn người chết về quê cũ. Trước khi đưa đám bắn 4 phát súng, lúc khiêng quan tài cho chân người chết đi trước. Từ nhà đến huyệt phải nghỉ 3 lần (nếu vợ hoặc chồng còn sống) hoặc 4 lần (nếu vợ hoặc chồng đã chết). Người nhà để tang 3 năm, trong thời gian có tang con trai không được uống rượu, con gái không được đeo đồ trang sức, con cái không được lấy vợ, lấy chồng.

Thờ cúng: Trên bàn thờ đặt 3 bát hương thờ trời, táo quân và tổ tiên. Dưới gầm bàn thờ đặt một bát hương thờ thổ địa. Nếu bố mẹ vợ chết không có người thờ cúng thì con rể lập bàn thờ nhỏ cạnh cửa để thờ.

Ði chợ luôn là nhu cầu của cư dân vùng cao biên giới Việt - Trung, cả người trẻ lẫn người già. Phút nghỉ ngơi của người phụ nữ Bố Y (nhóm Tu Dí) trong buổi chợ
Ði chợ luôn là nhu cầu của cư dân vùng cao biên giới Việt - Trung, cả người trẻ lẫn người già. Phút nghỉ ngơi của người phụ nữ Bố Y (nhóm Tu Dí) trong buổi chợ


Lễ tết: Có nhiều Tết: Nguyên đán, Rằm tháng giêng, 30 tháng giêng, Hàn thực, Ðoan ngọ, Mùng 6 tháng 6, Rằm tháng 7, Cơm mới. Tết Cơm mới tổ chức vào tháng 8 hay tháng 9 âm lịch, có bánh chưng, bánh chay và xôi nhuộm màu.

Lịch: Người Bố Y tính ngày, tháng theo âm lịch.

Học: Trước đây có một số người dùng chữ Hán để ghi gia phả, viết bài cúng, làm lá số...

Văn nghệ: Ở nhóm Tu Dí thường hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca bằng tiếng Hán, được phụ hoạ bằng kèn lá.

Chơi: Trong dịp hội hè, người Bố Y có các trò chơi đánh đu, cờ tướng, đánh quay, đánh khăng.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Bố Y

Tên tự gọi: Bố Y.

Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia...

Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.

Dân số: 2.273 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).

Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Bố Y vốn giỏi làm ruộng nước nhưng đến Việt Nam cư trú ở vùng cao nên chủ yếu phải dựa vào canh tác nương rẫy và lấy ngô làm cây trồng chính. Bên cạnh đó mỗi gia đình thường có một mảnh vườn để trồng rau. Ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ...

Ăn: Người Bố Y ăn ngô xay nhỏ đem luộc cho chín dở rồi mới đồ lên gọi là mèn mén.

Mặc: Trước đây, phụ nữ mặc váy xoè như váy của phụ nữ Mông, váy được tạo hoa văn bằng cách bôi sáp ong lên mặt vải rồi đem nhuộm chàm. Áo ngắn 5 thân có ống tay rời, xiêm che ngực và bụng. Phụ nữ đeo trang sức bằng bạc gồm dây chuyền, vòng tay, khuyên tai; tóc được búi ngược lên đỉnh đầu, đội khăn chàm có thêu hoa văn bằng chỉ màu. Ngày nay, họ mặc giống như người Nùng trong cùng địa phương. Phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán nhưng áo có ống tay rời.

: Người Bố Y cư trú ở Quản Bạ (Hà Giang) và Mường Khương (Lào Cai). Họ ở nhà đất có 2 mái lợp gianh, gỗ hoặc ngói, tường đất trình. Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang là chỗ để lương thực và là chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ.

Quan hệ xã hội: Có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên gồm trưởng bản (pin thàu) và người giúp việc (xéo phải).

Cưới xin: Gồm 3 bước:

Bước 1: Nhà trai cử 2 bà mối sang nhà gái xin lá số cô gái về để so tuổi. Nhà gái thường tỏ thiện chí bằng cách tặng nhà trai 10 quả trứng gà nhuộm đỏ. Nếu thấy "hợp tuổi", nhà trai cử 2 ông mối sang trả lá số và xin "giá ăn hỏi".

Bước 2: Lễ ăn hỏi. Sau lễ này, hôn nhân của đôi trai gái coi như được định đoạt.

Bước 3: Lễ cưới. Nhà trai đưa sính lễ cho nhà gái. Ngoài một số thực phẩm còn có 1 bộ trang phục nữ. Chàng rể không đi đón dâu. Khi về nhà chồng, cô dâu cưỡi ngựa do em gái chồng dắt và mang theo một cái kéo, 1 con gà mái nhỏ để đến giữa đường thì thả vào rừng.

Sinh đẻ: Xưa kia, người phụ nữ có tục đẻ ngồi, cắt rốn cho trẻ bằng mảnh nứa, nhau (rau) chôn ngay dưới gầm giường. Khi đứa trẻ được 3 ngày làm lễ cúng mụ, đặt tên tục, đến khi được 2- 3 tuổi mới đặt tên chính thức. Nếu đứa trẻ hay ốm đau thì phải tìm bố nuôi cho vía của nó có chỗ nương tựa.

Ma chay: Ma chay là thể hiện tình cảm của người sống với người chết và đưa hồn người chết về quê cũ. Trước khi đưa đám bắn 4 phát súng, lúc khiêng quan tài cho chân người chết đi trước. Từ nhà đến huyệt phải nghỉ 3 lần (nếu vợ hoặc chồng còn sống) hoặc 4 lần (nếu vợ hoặc chồng đã chết). Người nhà để tang 3 năm, trong thời gian có tang con trai không được uống rượu, con gái không được đeo đồ trang sức, con cái không được lấy vợ, lấy chồng.

Thờ cúng: Trên bàn thờ đặt 3 bát hương thờ trời, táo quân và tổ tiên. Dưới gầm bàn thờ đặt một bát hương thờ thổ địa. Nếu bố mẹ vợ chết không có người thờ cúng thì con rể lập bàn thờ nhỏ cạnh cửa để thờ.

Lễ tết: Có nhiều Tết: Nguyên đán, Rằm tháng giêng, 30 tháng giêng, Hàn thực, Ðoan ngọ, Mùng 6 tháng 6, Rằm tháng 7, Cơm mới. Tết Cơm mới tổ chức vào tháng 8 hay tháng 9 âm lịch, có bánh chưng, bánh chay và xôi nhuộm màu.

Lịch: Người Bố Y tính ngày, tháng theo âm lịch.

Học: Trước đây có một số người dùng chữ Hán để ghi gia phả, viết bài cúng, làm lá số...

Văn nghệ: Ở nhóm Tu Dí thường hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca bằng tiếng Hán, được phụ hoạ bằng kèn lá.

nghe-nhan-uu-tu-lo-lai-suu-dan-toc-bo-y-lao-cai-vtruyen-day-cac-dieu-mua-bai-hat-dan-ca-cho-the-he-tre-anh-trong-chinh-66.jpg
Nghệ nhân ưu tú Lồ Lài Sửu (dân tộc Bố Y, Lào Cai) truyền dạy các điệu múa, bài hát dân ca cho thế hệ trẻ. Ảnh Trọng Chính

Chơi: Trong dịp hội hè, người Bố Y có các trò chơi đánh đu, cờ tướng, đánh quay, đánh khăng.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Bố Y

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Nhiều năm gắn bó với nghệ thuật múa, Thạc sĩ Hà Trung, Phó Trưởng khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Lào Cai luôn dành tâm huyết nghiên cứu, giảng dạy và truyền dạy nghệ thuật Xòe Thái. Với anh, mỗi điệu xòe là một hình thức biểu diễn nghệ thuật, chứa đựng những giá trị văn hóa được cộng đồng người Thái lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Giữa nhịp sống phát triển của xã hội hiện nay, nhiều nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang dần bị mai một. Thế nhưng tại xã Khun Há tỉnh Lai Châu, những người phụ nữ dân tộc Lự vẫn miệt mài bên khung cửi, gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đồng thời từng bước đưa thổ cẩm trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bệnh viện Quân y 4, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 4, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo” với nhiều hoạt động thiết thực.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.