Vẻ đẹp trang phục người Hà Nhì ở đại ngàn Y Tý

Nằm ở độ cao 2.000m so với mực nước biển, xã Y Tý, huyện Bát Xát (Lào Cai) là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Hà Nhì đen. Người Hà Nhì còn lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có trang phục truyền thống thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật... cũng như phong tục, tập quán, sinh hoạt của cộng đồng, ước vọng về cuộc sống tốt đẹp.

Ngoài trồng lúa nước, người Hà Nhì đen còn tự tay trồng bông, dệt vải, thêu dệt những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình. Trang phục người Hà Nhì đen có màu sắc đơn giản, nhã nhặn, chỉ với sự kết hợp của màu chàm đen, xanh và trắng thể hiện sự mộc mạc, mạnh mẽ của núi rừng. Tuy nhiên, hoa văn trang trí cũng cầu kỳ cùng nhiều phụ kiện tinh xảo.

101486472_291294498715945_3631781310505400423_n (1).jpg
Chỉ với màu sắc chàm đen, xanh và trắng, bộ trang phục người Hà Nhì đen vẫn toát lên vẻ đẹp riêng mộc mạc và mang nét núi rừng. Ảnh: Hải Ly

Trang phục của người Hà Nhì đen gồm: Áo, quần, yếm, khăn đội đầu, dây cuốn tóc, xà cạp.

Áo là thành tố quan trọng, sử dụng kỹ thuật khâu, thêu, ghép vải tạo thành hình hoa văn ấn tượng. Áo của nữ giới gồm áo dài và yếm. Áo được may tứ thân xẻ nách. Cài khuy bên nách phải. Thân áo trước ngắn hơn so với thân áo sau. Gấu áo được khâu gấp mép rộng, cắt hơi nhọn ở giữa vạt trước. Phần thân áo sau được cắt nhọn ở chính giữa giống hình con ong. Cổ áo là cổ tròn, đứng, thấp, được khâu viền bằng một dải vải màu khác. Hai bên cạnh nách áo khâu mỗi bên 4 cây hoa bằng chỉ màu xanh thẫm hoặc màu trắng. Những cây hoa khâu ghép bên trái mang tính chất trang trí, bên phải là khuy cúc để cài mặc áo.

102421748_291294188715976_8432043871914902917_n.jpg
Áo là thành tố quan trọng trong trang phục Hà Nhì đen sử dụng nhiều kỹ thuật mới có thể hoàn thành. Ảnh: Hải Ly

Yếm trên trang phục của phụ nữ được may bằng vải đen dài hơn áo che phần từ cổ xuống hết gấu áo. Nhìn vào sẽ thấy phần yếm dài bằng với tà áo thân sau. Nhìn tổng thể yếm gồm 2 phần: phần trên từ trên cổ đến ngang nách áo, thêu hoa văn trang trí. Phần dưới từ ngang nách đến gấu áo không trang trí hoa văn, chỉ có màu đen tràm của vải áo. Phần trên yếm được cắt theo hình vòng cung với 5 đoạn thẳng nối nhau. Yếm có hình lục lăng nhưng các cạnh không đều nhau. Cổ yếm được gắn cúc đồng hoặc đồng bạc trắng hình tròn để làm cúc cài. Dây yếm được đan bằng những sợi len màu, độ dài vừa bằng với vòng cổ. Trên yếm được thêu các họa tiết đính 4 cúc vải, 2 cúc hai bên thân yếm, 2 cúc ở phía trên.

IMG_5294 (1).JPG
Yếm là bộ phận trang phục được người Hà Nhì chú trọng nhất vì tập trung nhiều họa tiết và hoa văn. Ảnh: Hải Ly

Yếm là bộ phận trên trang phục được người Hà Nhì đen chú trọng thêu nhất. Vì vậy chiếc yếm càng đẹp càng chứng tỏ sự khéo léo của người tạo nên nó. Làm tăng sự duyên dáng cho người mặc.

Điểm nhấn trong trang phục của đồng bào Hà Nhì là chiếc khăn đội đầu cùng với bộ tóc giả. Thường thì tóc giả được làm từ sợi chỉ bông, chỉ len đã nhuộm chàm hoặc củ nâu khá cầu kỳ. Tùy theo lứa tuổi có bộ tóc giả và cách vấn tóc khác nhau.

IMG_5124.JPG
Người con gái Hà Nhì đen chưa lập gia đình sẽ có những chiếc mũ nhiều màu sắc rực rỡ trên đầu như những bông hoa. Ảnh: Hải Ly

Đối với cô gái chưa lập gia đình sẽ có chiếc mũ trang trí các loại chỉ màu xanh đỏ và hạt cườm, bộ tóc giả ở phần cuối được buộc thành ba chùm và giữa có một chùm nhiều màu sắc giống như bông hoa.

IMG_5130.JPG
Phụ nữ Hà Nhì đen có chồng sẽ không có chiếc mũ mà thay vào đó là chiếc khăn vuông. Ảnh: Hải Ly

Đối với phụ nữ có chồng, họ cũng có bộ tóc giả giống như của các cô gái trẻ nhưng không có chiếc mũ, thay vào đó là chiếc khăn vuông, trên cùng có mảnh khăn trang trí hoa văn ở hai bên và gắn các tua chỉ ở phần dưới. Điểm khác biệt lớn nhất của bộ tóc giả ở phụ nữ có chồng là có mành khăn có đính tua đuôi đội ở trên cùng với ý nghĩa đề giữ lại hồn vía, bắt buộc đối với phụ nữ khi họ tham dự các dịp lễ quan trọng trong cộng đồng.

IMG_3603.jpg
Người Hà Nhì đen rất tự hào với bộ trang phục truyền thống của mình và họ mặc thường xuyên để giữ gìn vẻ đẹp của dân tộc. Ảnh: Hải Ly

Trang phục của nam giới Hà Nhì rất đơn giản, chỉ gồm: khăn đội đầu, quần áo và dây lưng. Áo nam giới Hà Nhì ngày thường may kiểu xẻ nách và xẻ ngực, hẹp ngang, nẹp áo ngực cài vào nhau bằng nút vải, làm tôn lên vẻ khỏe khoắn. Quần được may theo kiểu “chân què” (đũng quần thấp, ống rộng). Khi mặc thường dùng dây lưng vải thắt chặt. Dây lưng không chỉ là vật để giữ quần xiết vào thân mà còn tạo dáng khỏe khoắn cho nam giới.

IMG_5120.JPG
Theo tập quán tâm linh của người Hà Nhì đen, chóp đầu là phần giữ hồn nên khi lấy chồng thì phải giữ chặt hồn bằng khăn đội đầu...Ảnh: Hải Ly

Bộ trang phục của đồng bào Hà Nhì đen thể hiện sự hòa hợp của thiên nhiên và con người, là nét đẹp văn hóa ăn sâu vào tiềm thức dân tộc, tạo nên một sắc màu riêng cho đồng bào Hà Nhì trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Hải Ly

(̣Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)
Dân tộc Hà Nhì

Tên tự gọi: Hà Nhi gia.

Tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní.

Nhóm địa phương: Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen.

Dân số: 21.725 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.

Lịch sử: Cư dân Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở nam Trung Quốc và Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 8, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của họ ở Tây Bắc Việt Nam. Nhưng phần lớn tổ tiên người Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.

Hoạt động sản xuất: Người Hà Nhì sớm biết trồng lúa trên ruộng bậc thang. Họ giỏi việc khai khẩn tạo nên những thửa ruộng trên sườn núi dốc với những mương dẫn nước khéo léo. Họ quen dùng phân chuồng và phân tro trong canh tác lúa nước; đồng thời cũng làm nương cày hoặc nương cuốc để trồng ngô hoặc rau đậu, bầu, bí, bông, chàm...

Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên. Ðàn trâu nuôi thả rông trong rừng có đến hàng trăm con.

Nghề trồng bông, dệt vải đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống. Có nơi do khí hậu lạnh nên không trồng được bông phải đem các sản phẩm như chàm, đồ đan, gia cầm đổi lấy bông. Phụ nữ dệt vải trên khung cửi nhỏ, khổ 20 cm. Vải bền do kỹ thuật dệt đo được nhuộm chàm nhiều lần. Trồng chàm và nhuộm chàm là một hoạt động rất đặc sắc ở người Hà Nhì.

Hái lượm còn chiếm vị trí đáng kể trong đời sống hàng ngày.

Ăn: Người Hà Nhì quen dùng cả cơm nếp và cơm tẻ trong các bữa ăn hàng ngày. Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ săn bắt, đánh cá, hái lượm. Vào dịp lễ tết, họ thường làm nhiều loại bánh, ưa dùng thịt nướng, thịt xào và đặc biệt thích ăn cháo ám nấu với thịt gà hoặc thịt lợn.

: Họ quần cư chủ yếu trên dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào thuộc các huyện Bát Xát (Lào Cai), Mường Tè (Lai Châu). Bộ phận làm ruộng bậc thang, nương định canh từ lâu đã sống định cư. Nhiều bản có tuổi trên 100 năm, đông tới 50, 60 hộ. Những nơi làm nương, bản thường phân tán rải rác theo nương.

Ða số cư dân ở nhà đất, tường trình chắc chắn, dày tới 30-40cm, thích hợp với khí hậu lạnh vùng núi cao. Tuỳ từng nơi, nhà có hàng hiên phía trước hoặc hàng hiên ở ngay trong nhà để tránh gió rét. Họ quen nấu cơm bằng chảo ở bếp lò xây trên nền đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Hà Nhì phổ biến dùng gùi đeo qua trán, một số nơi dùng ngựa trong việc đi lại và chuyên trở.

Quan hệ xã hội: Tính cộng đồng trong làng bản biểu hiện khá tập trung không chỉ trong sản xuất mà cả trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng.

Gia đình nhỏ phụ quyền song người phụ nữ vẫn được trân trọng trong xã hội. Có nhiều họ khác nhau, mỗi họ lại chia ra thành nhiều chi. Tên chi gọi theo tên ông tổ.

Người Hà Nhì không có tục thờ cúng chung toàn dòng họ mà chỉ thờ cúng theo gia đình. Việc thờ cúng do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận. Nếu dòng trưởng không có người thừa kế thì việc thờ cúng chuyển cho con trai út. Các thành viên trong gia đình, dù đã ra ở riêng, nếu bị chết phải đưa xác về quàn tại trước bàn thờ bố mẹ thì người quá cố mới được thờ cúng chung với tổ tiên.

Hàng năm vào tối 30 tết, một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện. Ðó là lễ tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, đọc tên từng tổ tiên và mọi người cùng nhắc lại. Tên từng người được gọi theo cách gọi phụ tử liên danh, tên cha nối với tên con, nên có vần điệu dễ nhớ. Có họ nhắc tới 71 tên gọi trong buổi lễ này. Có nơi nghi lễ này cũng được thực hiện trong lễ nhập quan cho người chết.

Cưới xin: Tuỳ từng vùng phong tục cưới xin khác nhau nhưng một điểm chung nhất là các cuộc hôn nhân do trai gái tự tìm hiểu. Ở vùng Bát Xát (Lào Cai), cưới qua nhiều bước. Sau ba lần dạm hỏi, lễ cưới thứ nhất được tổ chức nhằm đưa con dâu về nhà chồng. Lần cưới thứ hai ăn uống linh đình ở nhà gái. Lễ này chỉ diễn ra sau khi đôi vợ chồng làm ăn khá giả, lúc đó họ đã có con, cháu, có người 50-60 năm sau hoặc cho đến khi chết vẫn chưa tổ chức được lễ cưới này. Ở Tây Bắc, sau lễ hỏi, con rể đến ở rể. Nếu trả ngay tiền cưới thì không phải ở rể, lễ cưới được tổ chức ngay, từ đó con dâu mang họ của chồng.

Sinh đẻ: Phụ nữ Hà Nhì đẻ đứng. Ðể dễ đẻ họ có tục đập vỡ ống bương đựng nước cho nước toé ra hoặc thả ống bương nước trong có cái đục từ trên đỉnh nóc nhà xuống, đục bắn ra giống như đứa trẻ được đẻ ra. Có nơi sản phụ được uống nước tro của ruột voi với mong muốn sản phụ có sức mạnh như voi. Rau đẻ được chôn ở ngay sau cửa ra vào hay cột cạnh bếp lò.

Nhà có trẻ mới sinh được báo hiệu bằng chiếc nón úp trên cọc ở trước cửa, nếu cọc ở phía bên phải - sinh con gái, bên trái - sinh con trai.

Ma chay: Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có nắp đậy kín. Nơi đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đấy. Kiêng chôn vào mùa mưa, vào thời điểm đó quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn. Hết mùa mưa mới đem chôn quan tài có người chết.

Thờ cúng: Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.

Lễ tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.

Học: Người Hà Nhì chưa có chữ viết riêng, việc giáo dục chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác.

Văn nghệ: Người Hà Nhì có nền văn học dân gian với nhiều thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ...

Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích.

Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo.

Chơi: Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm, khéo léo như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hà Nhì

Có thể bạn quan tâm

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xã Đất Mũi là đơn vị hành chính cuối cùng ở cực Nam Tổ quốc, cách trung tâm tỉnh Cà Mau hơn 110 km. Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Mùa xuân ở vùng đất này không chỉ có sắc mai vàng mà còn mang theo hương vị mặn mòi của biển cả, mùi thơm của những mẻ cá khô và niềm hy vọng mãnh liệt về sự khởi sắc của quê hương.

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Miền Tây miệt vườn từ lâu đã được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ruộng vườn bạt ngàn, sản vật phong phú. Ở đó, cư dân đã hình thành nên một không gian văn hóa đặc trưng, trong đó Tết Nguyên đán là một nét chấm phá thấm đẫm chất miền Tây sông nước.

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Những ngày cuối năm, khi gió bấc se sắt thổi, khi những mái ngói rêu phong quanh đền Đô trầm mặc trong làn sương mỏng, làng nghề bánh phu thê Đình Bảng (nay thuộc phường Từ Sơn, Bắc Ninh) lại bừng lên nhịp điệu riêng của mùa Xuân. Tết ở vùng đất Kinh Bắc không chỉ hiện diện trong sắc đào phai trước hiên nhà, trong không khí rộn ràng chợ Tết, mà còn lan tỏa từ những gian bếp đỏ lửa, nơi những mẻ bánh phu thê đang lặng lẽ tỏa hương.

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Bánh tráng Cù lao Mây - một đặc sản nổi tiếng của làng nghề có lịch sử hơn 100 năm của xã Lục Sỹ Thành, tỉnh Vĩnh Long. Làng nghề truyền thống này hiện có 71 hộ sản xuất; trong đó, 14 hộ tham gia hợp tác xã với 2 hộ có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Làng nghề hoạt động quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.